ĐƠN YÊU CẦU KHẨN THIẾT Xin gặp chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆTNAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————–oo0oo————–

Số: 1523

TP.Hồ Chí Minh, ngày 28 tháng 10 năm 2011


ĐƠN YÊU CẦU KHẨN THIẾT

Xin gặp chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long

 Kính gởi:       ông NGUYỄN VĂN DIỆP, chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long

  –       Căn cứ Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 2-12-1998; Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 15-6-2004; và Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo ngày 29-11-2005;

–       Căn cứ nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14-11-2006 của Thủ tướng chính phủ. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo;

–       Căn cứ thông tư số 01/2009/TT-TTCP ngày 15-12-2009 của Thanh tra Chính phủ. Quy định quy trình giải quyết tố cáo; và thông tư số 04/2010/TT-TTCP ngày 26-8-2010 của Thanh tra Chính phủ. Quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo, đơn phản ánh, kiến nghị liên quan đến khiếu nại, tố cáo;

–       Căn cứ Quyết định số 297-CT ngày 2-10-1991 của Chủ tịch HĐBT về việc giải quyết một số vấn đề về nhà ở:

“Điều 1: Đối với nhà ở tuy thuộc diện cải tạo nhưng tính đến ngày 1 tháng 7 năm 1991 Nhà nước không tiến hành các thủ tục quản lý và thực tế Nhà nước không quản lý hoặc không bố trí sử dụng thì Nhà nước công nhận quyền sở hữu của chủ nhà.”

–       Căn cứ Thông tư số 383/BXD-ĐT ngày 5-10-1991 hướng dẫn thi hành Quyết định số 297-CT ngày 2-10-1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng:

“Khoản 4. Nhà ở trong diện cải tạo nhưng cho đến ngày 1-7-1991 mà Nhà nước không tiến hành các thủ tục quản lý và thực tế cơ quan Nhà nước không quản lý hoặc sử dụng (thường gọi là cải tạo sót) thì Nhà nước vẫn công nhận quyền sở hữu của chủ nhà, và họ có quyền định đoạt nhà ở của mình theo quy định của Pháp luật.”

–       Tham chiếu PHÁP LỆNH của Hội đồng Nhà nước số 53-LCT/HĐNN8 ngày 7-5-1991 về khiếu nại, tố cáo của công dân có hiệu lực thi hành kể từ ngày 01 tháng 8 năm 1991. và NGHỊ ĐỊNH của Hi đng B trưng s 38-HĐBT ngày 28-1-1991 v vic thi hành pháp lnh khiếu ni, t cáo của công dân;

–       Tham chiếu Quyết định số 111/CP ngày 14-4-1977 của Hội đồng chính phủ về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo XHCN đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị của các tỉnh phía nam.

I. NẠN NHÂN:

Huỳnh Công Thuận, Sinh ngày: 22/06/1952.

– Nguyên từ trước đến nay là chủ hộ nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long (bị cướp đoạt tất cả tài sản nhà, đất và mồ mả thân nhân lại còn bị xóa hộ khẩu ngược thời gian).

– Địa chỉ liên lạc : HT 67 BĐ vườn xoài, quận 3 – TP.HCM.

– Điện thoại: 0983323336 – Email: huynhcongthuan@gmail.com

II. NỘI DUNG VỤ ÁN và TÀI LIỆU CHỨNG CỨ:

Đầu năm 1979 bị tước đoạt toàn bộ tài sản nhà, đất, mồ mả gia tộc không lý do, không quyết định và cũng không tiến hành thủ tục nào theo quy định pháp luật. Khiếu nại không được giải quyết và sau khi đã khiếu nại đến trung ương nhưng vẫn bị đòi thuế, bị mời đi học tập buộc nộp thuế mãi 2 năm sau 1979-1980 vẫn còn nộp thuế. Căn nhà số 507 (số cũ 432) ấp thanh mỹ, xã thanh đức, huyện long hồ, tỉnh Vĩnh Long do tôi Huỳnh Công Thuận làm chủ hộ và do chính tay chúng tôi xây dựng lên trong phần đất hương hỏa 6.102 m2 của gia tộc họ HUỲNH chúng tôi tạo lập từ năm 1959 và gia đình chúng tôi đã sinh sống liên tục ổn định trong phần đất này, đến sau 1975 tôi có kê khai đăng ký nộp thuế hàng năm đầy đủ. Trong phần đất hương hỏa này ngoài căn nhà do chính tay anh em chúng tôi dựng lên còn có nghĩa trang gia tộc của chúng tôi. Hiện trong nghĩa trang có 8 ngôi mộ bao gồm 3 thế hệ của thân nhân gia tộc họ HUỲNH chúng tôi như sau:

  1. 1.    Ông nội Huỳnh văn Đô chết, chôn và lập mộ tháng 9-1963.
  2. 2.    Cha Huỳnh văn Nên chết, chôn và lập mộ tháng 3-1971.
  3. 3.    em gái Huỳnh thị Thanh Bình chết, chôn và lập mộ tháng 12-1973.
  4. 4.    mẹ Nguyễn thị Lầu chết, chôn và lập mộ tháng 10-1975.
  5. 5.    bà nội Nguyễn thị Bảnh chết, chôn từ năm 1978, lập mộ năm 2002.
  6. 6.    em trai Huỳnh Công Hiệp chết, chôn và lập mộ tháng 7-2000.
  7. 7.    em trai Huỳnh Công Đàng chết, chôn và lập mộ tháng 10-2003.
  8. 8.    anh Huỳnh Công Thế chết, chôn và lập mộ tháng 01-2009

Nguồn gốc phần đất hương hỏa của gia tộc họ HUỲNH:

Gia tộc họ HUỲNH chúng tôi có đầy đủ những bằng chứng và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền của gia tộc họ HUỲNH chúng tôi đối với căn nhà số 507 (số củ 432) ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do tôi Huỳnh Công Thuận làm chủ hộ và phần đất hương hỏa 6.102 m2 của gia tộc họ HUỲNH do tôi nộp thuế là tài sản hợp pháp, thời gian qua tất cả tài sàn nhà, đất và mồ mả của gia tộc chúng tôi bị cán bộ lợi dụng chức quyền đã tổ chức chiếm đoạt trái phép, tùy tiện chiếm dụng, giao cấp cho người khác sử dụng rồi câu kết tạo chứng cứ giả để hợp thức hóa, lại còn toa rập tạo dựng ra quyết định khống để đối phó đề ngày 9-10-1996 đến năm 2001 khi tôi phát hiện đã tố cáo nhưng cho đến nay không được giải quyết. Với Quyết tâm phải đi đến tận cùng sự thật, nay tôi phải dùng mọi biện pháp để đưa “vụ án cướp nhà, cướp mộ” này ra trước dư luận. Tôi khẳng định quyết tâm theo đuổi vụ án “cướp nhà, cướp mộ” này đến cùng.

Phần đất hương hỏa 6102m2 của gia tộc họ HUỲNH chúng tôi hiện tọa lạc tại ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long bao gồm 8 ngôi mộ là hoàn toàn hợp pháp bởi chúng tôi có đầy đủ các giấy tờ hợp pháp cùng với những bằng chứng lịch sử nguồn gốc đất như sau:

  1. Năm 1959, bà Nguyễn thị Lầu đứng tên mua phần đất với chu vi 4 cạnh: 113 m x 93 m x 138 m x 15 m, tổng diện tích là 6.102 m2 để làm đất hương hỏa và nghĩa trang cho gia tộc họ HUỲNH.
  2. Ngày 09-02-1984 Ban Phân vùng qui hoạch và quản lý ruộng đất tỉnh (tiền thân của Sở Địa chính) có mời đến đối chiếu sổ bộ xác nhận phần đất 6.102m2 này là hoàn toàn hợp pháp, trước bạ tại Vĩnh Long ngày 11-6-1959, quyển 56, tờ 91, số 720 và đăng ký vào sổ địa bộ ngày 23-7-1959, biên lai số 819; số địa bộ mới: 810.
  3. Ngày 08-10-2001 địa chính xã Thanh Đức cung cấp “trích lục bản đồ giải thửa” cùng với “danh sách các hộ chiếm dụng bất hợp pháp”, trong đó Nguyễn Trung Nghĩa (trung úy Công an) đã liên tục 7 lần lấn chiếm bất hợp pháp.
  4. Gia đình chúng tôi đã sử dụng liên tục và ổn định phần đất này từ năm 1959, đã dày công tu sửa từ đất ruộng thành vườn cây ăn trái, đến tháng 11 năm 1975 bà Nguyễn thị Lầu chết thì Huỳnh Công Thuận là chủ hộ nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long và có trách nhiệm đóng thuế hàng năm, mãi cho đến 2 năm sau khi bị tước đoạt nhà, đất một cách bất công vô lý nhưng Huỳnh Công Thuận vẫn còn tiếp tục đóng thuế đến năm 1980.

Phần đất hương hỏa 6102 m2 của gia tộc họ HUỲNH chúng tôi do bà Nguyễn thị Lầu (vợ ông Huỳnh Văn Nên) mua lại của bà Huỳnh Thị Chắt ngày 28-05-1959 là hoàn toàn hợp pháp, có lập tờ mua bán như sau:

Về hình thức:

Tờ đoạn mãi làm đúng thủ tục pháp định, có sự hiện diện của hai người phối ngẩu trước sự chứng kiến xác nhận của chính quyền sở tại ngày 28-5 dl-1959. Ngày 09-02-1984 Ban phân vùng qui hoạch và quản lý ruộng đất tỉnh (tiền thân sở địa chính) sau khi đối chiếu đã xác nhận giấy đất của chúng tôi hoàn toàn hợp pháp đã trước bạ tại Vĩnh Long ngày 11-06-1959, quyển 56, tờ 91, số 720 và đăng ký vào sổ địa bộ ngày 23-07-1959, biên lai số 819; số địa bộ mới: 810.

Về nội dung: có 2 điểm chính:

  1. Đàng bán Huỳnh Thị Chắt chủ đất bằng lòng chiết ra bán đứt cho đàng mua Nguyễn Thị Lầu 6102m2, có họa đồ.
  2. Lời giao kết : “đàng mua được làm chủ vĩnh viễn theo ý muốn; nếu sau này có điều chi sai trái về vụ mua bán đất này thì chủ bán phải đền bồi các tổn phí”.

Về việc sử dụng:

Gia đình chúng tôi đã sử dụng liên tục và ổn định phần đất hương hỏa 6.102 m2 của gia tộc từ năm 1959, trong phần đất này ngoài một phần dành riêng làm nghĩa trang cho gia tộc, còn có một căn nhà do chính tay anh em chúng tôi dựng lên do tôi Huỳnh Công Thuận làm chủ hộ. Lúc mua là đất ruộng, chúng tôi đã dày công tu sữa cải tạo thành vườn cây trái, có hàng rào riêng biệt, sau 1975 tôi là chủ hộ có kê khai đăng ký và nộp thuế hàng năm đầy đủ mãi cho đến sau khi bị tước đoạt vẫn còn tiếp tục nộp thuế, còn bên phần đất của bà Chắt do bà đăng ký kê khai nộp thuế tên bà, mồ mả thân nhân hai gia đình cũng chôn riêng: ông Thinh chồng bà Chắt chết 1977 chôn phía bên phần đất của bà đến 1978 bà đã bốc mộ lấy cốt đem đi nơi khác. Còn trong phần đất hương hỏa 6102 m2 của gia tộc họ huỳnh của chúng tôi cho đến nay có 8 ngôi mộ của 3 thế hệ họ HUỲNH chúng tôi như đã nói trên.

Ngày 8-10-2001 cán bộ địa chính xã Thanh Đức cung cấp “Danh sách các hộ chiếm dụng bất hợp pháp” “Trích lục bản đồ giải thửa” trong số đó hộ Nguyễn Trung Nghĩa (Sĩ quan Công an) đã liên tục 7 lần lấn chiếm bất hợp pháp.

 Về công văn số 517/UB của UBND tỉnh Vĩnh Long đề ngày 8-4-2002

 Những điểm sai trái bất hợp lý trong công văn này:

Công văn số 517/UB của UBND tỉnh Vĩnh Long đề ngày 8-4-2002 có 2 điểm sai phạm nghiêm trọng như sau:

  1. tuyên bố xóa hộ khẩu ngược thời gian năm 1987 trong khi sổ hộ khẩu cấp năm 1991 và
  2. tuyên bố đã giải quyết hết thẩm quyền kể từ đây về sau không nhận đơn nữa nhưng từ trước đến nay chưa hề giải quyết và hoàn toàn không giải quyết gì cả.

Ngoài 2 điểm sai phạm nghiêm trọng nói trên, Công văn số 517/UB này còn những điểm áp đặt, gán ghép sai trái mâu thuẩn như sau:

v  Công văn 517 đã viện dẫn 2 quyết định:

  • (1) Một là: Quyết định số 13/QĐ-UBH.HC ngày 20-03-1978 của UBND huyện Long Hồ : Quyết định này hoàn toàn không liên quan đến tôi Huỳnh Công Thuận vì không có điều khoản nào nói đến tôi (hoặc gia đình tôi).
  • (2) Hai là: Quyết định số 2014/QĐ-UBT ngày 09-10-1996 của UBND tỉnh Vĩnh Long : Quyết định này đã được tạo dựng lập khống đề ngày 9-10-1996 nhưng lại xét tờ trình ngày 16-10-1996 (sinh con trước rồi mới sinh cha) và từ năm 1996 đến nay quyết định khống này không được công bố (xem phần giải trình quyết định khống tại trang 13).

v  Tại điểm 1 trong phần trả lời Công văn 517/UB cho rằng “xét về nguồn gốc và diễn biến qua các quá trình chuyển dịch trước đó, căn cứ vào chính sách ruộng đất của Nhà nước sau ngày giải phóng Miền nam thì Nhà nước không thừa nhận việc mua bán đất này từ huyện Tâm bán cho bà Chắt, cũng như từ bà Chắt bán cho mẹ tôi. Do đó gia đình tôi không được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đối với phần đất này mà phần đất trên thuộc diện Nhà nước quản lý”. “Quyết định số 13/QĐ-UBH.HC ngày 20-3-1978 của UBND huyện Long Hồ là đúng quy định…”.

Về điểm này, Công văn 517/UB đã cố tình bóp méo xuyên tạc sự thật bởi vì:

  • Như đã nói trên, Quyết định số 13/QĐ-UBH.HC hoàn toàn không liên quan đến tôi, ngày 8-2-1984 tức 6 năm sau. Ban Phân vùng qui hoạch và quản lý ruộng đất (tiền thân của Sở Địa chính) đã mời tôi đến đối chiếu giấy đất với sổ bộ xác nhận phần đất của chúng tôi hoàn toàn hợp pháp, đúng với sổ bộ lưu: phần đất 6102m2 đã trước bạ ngày 11-6-1959, quyển 56, tờ 91, số 720 và đã đăng ký vào sổ địa bộ mới ngày 23-7-1959, biên lai số 819; số địa bộ mới: 810, sau đó cho biết đã báo cáo đến UBND tỉnh.
  • Giấy mua bán đất được làm đúng thủ tục pháp định, có sự dự thính và cho phép của hai người phối ngẩu có xác nhận của chính quyền địa phương ngày 28-5 dl-1959, trong đó có lời giao kết: “đàng mua được làm chủ vĩnh viễn theo ý muốn; nếu sau này có điều chi sai trái về vụ mua bán đất này thì chủ bán phải đền bồi các tổn phí”. Từ năm 1979 đến nay tôi liên tục khiếu kiện về việc bị tước đoạt nhà, đất, nếu Nhà nước không thừa nhận việc mua bán này thì đã trả lời cho biết và ban hành quyết định quản lý phần đất 6102m2 của chúng tôi chứ đâu phải đợi sau khi người bán chết (bà Chắt chết năm 2001) mới đưa ra quan điểm này?
  • Hơn nữa:

–       Căn cứ Quyết định số 297-CT ngày 2-10-1991 của Chủ tịch HĐBT về việc giải quyết một số vấn đề về nhà ở:

“Điều 1: Đối với nhà ở tuy thuộc diện cải tạo nhưng tính đến ngày 1 tháng 7 năm 1991 Nhà nước không tiến hành các thủ tục quản lý và thực tế Nhà nước không quản lý hoặc không bố trí sử dụng thì Nhà nước công nhận quyền sở hữu của chủ nhà.”

–       Căn cứ Thông tư số 383/BXD-ĐT ngày 5-10-1991 hướng dẫn thi hành Quyết định số 297-CT ngày 2-10-1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng:

“Chính sách đối với nhà cải tạo:

Khoản 4. Nhà ở trong diện cải tạo nhưng cho đến ngày 1-7-1991 mà Nhà nước không tiến hành các thủ tục quản lý và thực tế cơ quan Nhà nước không quản lý hoặc sử dụng (thường gọi là cải tạo sót) thì Nhà nước vẫn công nhận quyền sở hữu của chủ nhà, và họ có quyền định đoạt nhà ở của mình theo quy định của Pháp luật.”

  • về việc giải quyết khiếu kiện nhà ở, tính đến ngày 1 tháng 7 năm 1991 chỉ xác định Nhà nước có quản lý hay không chứ không xem xét có thuộc diện Nhà nước quản lý hay không. Căn nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do tôi làm chủ hộ (và phần đất hương hỏa 6102m2 của gia tộc họ Huỳnh chúng tôi do tôi nộp thuế) hoàn toàn không có quyết định quản lý và cũng không có tiến hành bất kỳ thủ tục tiếp quản nào cả, tức là Nhà nước không quản lý.
  • Mặt khác, phần đất của bà Chắt vì Nhà nước quản lý nên bà không phải nộp thuế, còn phần đất 6102m2 của chúng tôi vì Nhà nước không có quản lý nên tôi vẫn phải nộp thuế. Chúng tôi bị chiếm đoạt Nhà, đất, bị đuổi ra không được ở trong nhà, đất của mình trong khi bà Chắt đã vào ở và người khác đã chiếm dụng mua bán nhưng tôi vẫn bị bắt đi học tập buộc phải nộp thuế.

v  Tại điểm 2 trong phần trả lời Công văn 517/UB nói: “năm 1979-1980 UBND xã mời học tập buộc đóng thuế vì ở thời điểm này tôi vẫn còn ở thu huê lợi” “có người khác bán đất mà tôi vẫn phải chịu thuế là không đúng”.

Điểm này công văn 517/UB đã nói sai bởi vì:

  • Giấy báo tin số 3221/VP/KT của ủy ban kiểm tra trung ương Đảng báo nhận đơn ngày 25-7-1979 (trang 18) còn lệnh mời do trưởng Công an xã ký ngày 5-8-1979 (trang 19), biên lai thuế số 0863102/TNN ngày 8-8-1979 (trang 19), từ đầu năm 1979 sau khi khiếu nại tại địa phương xã, huyện và tỉnh không được giải quyết, đến tháng 4-1979 bà Chắt dọn nhà sang đất tôi ở trong khi chúng tôi không được ở trong nhà, đất của mình cho nên sau đó vào tháng 7-1979 tôi phải khiếu nại đến Trung ương.
  • Đầu năm 1980 tôi nhận được giấy báo thuế (trang 20) đồng thời có người đến đốn hạ cây trái, đào đất chở đi, đến gặp ông Lương văn Đức (chủ lò gạch Vạn Xương) đưa tôi xem giấy bán đất do ông Đinh Hồng Hải (cán bộ ấp) tự nhận là chủ đất làm giấy bán 1.000 m2 đất cho ông với số tiền là 900$ (chín trăm đồng). Việc này ngày 22-4-1980 thanh tra tỉnh đã lập biên bản, sau đó cho biết đã báo cáo đến UBND tỉnh trong báo cáo số 29 ngày 25-04-1980 do ông Phan văn Hớn ký (trang 20).

v  Chưa hết, tại điểm 2 công văn 517/UB này lại bịa đặt ra một chi tiết hoàn toàn không đúng sự thật (nguyên văn nơi trang 4): “Ông cho là đầu năm 1979 ông đã bị tước đoạt toàn bộ tài sản bao gồm: 1 ngôi nhà lá”. Điều này là hoàn toàn bịa đặt vì nhà chúng tôi là nhà tôn vách tre.

v  Tại điểm 3 trong phần trả lời Công văn 517 nói trước đây “Huỳnh Công Thuận có hộ khẩu thường trú nhưng sau đó bỏ địa phương đi không trình báo nên công an xã đã xoá hộ khẩu vào năm 1987”.

Viện lý do tôi bỏ địa phương đi không trình báo nên xóa hộ khẩu của tôi vào năm 1987 là không thể bởi vì:

  • sổ hộ khẩu cấp năm 1991 (trang 9) thì không thể xóa hộ khẩu “ngược thời gian” vào năm 1987 được. Hơn nữa, mặc dù chúng tôi đã bị đuổi ra khỏi nhà, đất của mình từ đầu năm 1979 nhưng hàng tháng trong nhiều năm chúng tôi vẫn phải làm đơn xin tạm vắng với lý do chờ chính quyền giải quyết nhà, đất mà công an xã khi đó tùy ý lúc cho lúc không và mỗi lần chỉ cho phép tạm vắng 30 ngày, có lần không được cho tạm vắng Công an nơi tạm trú đã phải đề nghị Công an xã xem xét cho chúng tôi tạm vắng. Hiện tôi còn cất giử một số đơn tạm vắng-tạm trú vào các năm 1980-1981 và một số giấy tờ khác có sự chứng nhận của chính quyền xã Thanh Đức vào các năm 2000. Chính ông Nguyễn Văn Cương Chủ tịch UBND tỉnh đã giận dử phát biểu trong cuộc họp ngày 8-5-2001: “đơn xin tạm vắng chờ chính quyền giải quyết nhà đất của người ta Công an xã ký rành rành như thế này mà nói là bỏ địa phương đi không trình báo là sao”

v  Tại điểm 4 Công văn 517/UB còn khẳng định: “UBND xã Thanh Đức cho biết là xã không có nhận được đơn của ông Thuận xin phép xây mồ cho bà nội cũng như việc xin phép xây kim tỉnh cho em là Huỳnh Công Hiệp”.

Điều này công văn đã nói sai hoàn toàn, bởi vì:

  • Đơn xin an táng Huỳnh Công Hiệp do Chủ tịch UBND xã Thanh Đức ký ngày 26-7-2000. Lúc đó em tôi Huỳnh Công Hiệp bị bệnh nặng bệnh viện trả về lo hậu sự, và tôi đã phải chầu chực chờ đợi cả 7 ngày trời mới được Chủ tịch xã ký xác nhận cho đào huyệt an táng.

v  Công văn 517/UB này cố tình gán ghép, giải thích lập lờ chồng chéo giữa hai phần đất của gia đình bà Chắt với phần đất hương hỏa 6102m2 của gia tộc chúng tôi, trong khi hai phần đất, hai căn nhà và hai hộ khẩu riêng biệt hoàn toàn:

1)    Phần đất của gia đình bà Chắt do bà đóng thuế, nhà do bà làm chủ hộ và mộ của ông Thinh (chồng bà Chắt) chôn trong phần đất đó – trong khi phần đất 6102m2 của chúng tôi do tôi đóng thuế, nhà do tôi làm chủ hộ và tất cả thân nhân của chúng tôi đều chôn trong phần đất này. Mặt khác, dù bà Chắt đã vào đất tôi ở từ tháng 4/1979 đến năm 2001 bà chết nhưng bà vẫn không được chôn trong đất này. Hơn nữa, đất của bà Chắt bị Nhà nước quản lý vào năm 1978 có lập biên bản đúng thủ tục – còn nhà và đất của tôi bị tước đoạt vào năm 1979 mà hoàn toàn không có tiến hành bất kỳ thủ tục nào theo qui định pháp luật.

2)    Khi quản lý đất bà Chắt, Nhà nước có cấp cho bà một phần đất khác để ở. Còn chúng tôi vì Nhà nước không có quản lý cho nên Nhà nước đã không cấp hoặc chỉ định cho chúng tôi một chổ ở nào khác dù chúng tôi luôn có đơn yêu cầu giải quyết nhà, đất và tôi vẫn phải đóng thuế phần đất 6102m2 này sau khi bà Chắt đã vào ở. Bà Chắt bị ép buộc phải vào ở trong đất của tôi cho nên bà luôn áy náy, sau đó bà đã làm đơn xin lại một phần đất của bà để trả phần đất đang ở lại cho chúng tôi và ngày 13-2-2001 UBND tỉnh Vĩnh Long đã ban hành quyết định số 255/QĐ.UBT (trang 25), trong quyết định này có xác định rỏ vị trí bà Chắt ở hiện nay là một phần đất khác không nằm trong phần đất của bà bị Nhà nước quản lý (là phần đất của chúng tôi) .

3)    đầu năm 2001 bà Chắt mất tôi mới được biết năm trước lúc đang đào huyệt cho em tôi là Huỳnh Công Hiệp bà Chắt có nói là “bà cũng rất thích sau khi chết được chôn chung ở đây nhưng vì đất này của thằng Thuận, bà dặn hãy thiêu xác bà vì không có đất chôn, bà còn nói đã quật mồ chồng một lần rồi sợ bà sẽ bị quật mồ lần nửa”, xin nói thêm lúc đào huyệt chôn em tôi bà Chắc nói là bà đã làm đơn xin lại một phần đất cũ của bà, việc này cán bộ Trung Thanh tra tỉnh đã báo cáo xác minh với Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long trong cuộc họp ngày 8-5-2001.

4)    Hơn nữa, ngày 8-10-2001 cán bộ địa chính xã có cung cấp trích lục bản đồ giải thửa và danh sách các hộ chiếm dụng bất hợp pháp, trong số đó có sĩ quan công an đã 7 lần lấn chiếm bất hợp pháp và ngày 20-8-1996 thanh tra Công an tỉnh có mời tôi đến lập biên bản thu các chứng cứ nhưng sau đó vụ việc đã chìm xuồng.

v  Mặt khác, về nguồn gốc đất trong quyết định khống năm 1996 và nguồn gốc đất trong công văn 517/UB năm 2002 có những điểm khác biệt mâu thuẩn cụ thể như sau:

  • Quyết định khống đề ngày 9-10-1996 nói nguồn gốc đất là “của huyện Tâm bán lại cho ông Huỳnh Văn Đô…”
  • Công văn 517/UB đề ngày 8-4-2002 lại nói nguồn gốc đất là “của huyện Tâm bán cho gia đình bà Nguyễn Thị Chắt…” (ghi sai họ bà Chăt).

Tóm lại: Công văn số 517/UB của UBND tỉnh Vĩnh Long đề ngày 8-4-2002 đã cố tình tránh né không dùng những tài liệu chính thức, không đối chiếu kiểm chứng mà chỉ suy diễn áp đặt gán ghép những việc không có thật, không có cơ sở, không có căn cứ. Công văn 517/UB nói là sau cách mạng tháng 8 đã cấp cho nông dân là hoàn toàn bịa đặt lại trái với tinh thần Quyết định số 297-CT ngày 2-10-1991 và Thông tư hướng dẫn thi hành số 383/BXD-ĐT ngày 5-10-1991. Sau bao nhiêu năm khiếu kiện cho đến nay UBND tỉnh hoàn toàn chưa hề giải quyết gì cả, cho đến nay tôi vẫn là chủ hộ không nhà, không nơi cư trú. Nhất là việc công văn này lờ đi không nói đến việc cái quyết định được tạo dựng lập khống đề ngày 9-10-1996 chỉ với mục đích đối phó, mãi từ năm 1996 đến nay không hề công bố. Cuối cùng Công văn 517/UB này còn tuyên bố “kể từ đây về sau không nhận đơn khiếu nại, tố cáo của ông có liên quan đến nội dung trên, vì đã hết thẩm quyền của UBND Tỉnh theo qui định của pháp luật” nhằm mục đích phủ nhận chủ quyền đối với phần đất hương hỏa của gia tộc chúng tôi, giống như giọng điệu ngang ngược của Trung Quốc tuyên bố phủ nhận chủ quyền của Việt Nam đối với biển, đảo của Việt Nam. Điều đáng nói nhất là Công văn 517/UB đề ngày 8-4-2002 dùng lời lẽ miệt thị đầy hận thù (trích nguyên văn: điểm 1 công văn 517):

“ruộng đất do bọn sĩ quan và nhân viên ngụy quyền dựa vào quyền thế để chiếm đoạt hoặc cưởng mua của nông dân”

Về quyết định khống đề ngày 9-10-1996:

(từ năm 1996 đến nay không được công bố dù đương sự nhiều lần yêu cầu)

Toàn văn quyết định khống đề ngày 9-10-1996 do nạn nhân tự sao chép:

ỦY BAN NHÂN DÂN                  CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH VĨNH LONG                                         Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

-:-                                                —————————————–

Số: 2014/QĐ.UBT                                  TX Vĩnh Long, ngày 9 tháng 10 năm 1996

QUYẾT ĐỊNH CỦA ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH

“về việc giải quyết đơn của ông Huỳnh Công Thuận

sinh năm 1952 ngụ HT 59, Quận Bình thạnh, thành

phố Hồ Chí Minh. Khiếu nại xin lại 6.102 m2 đất vườn,

tọa lạc ấp thanh Mỹ 1, xã Thanh đức, Huyện Long Hồ.

ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH VĨNH LONG

– Căn cứ Luật tổ chức Hội đồng nhân dân và UBND của quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNamngày 21/6/1994;

– Căn cứ Luật đất đai của quốc hội nước Cộng hòa xã hội chủ nghĩa ViệtNamban hành ngày 24/7/1993;

– Xét tờ trình số 124 ngày 16/10/1996 của ban giải quyết khiếu tố tỉnh, trên cơ sở báo cáo số 33/BCTTr ngày 24/7/1996 của Chánh thanh tra tỉnh Vĩnh Long. Kết quả xác minh đơn khiếu nại của ông Huỳnh Công Thuận được thể hiện như sau:

– Gốc đất mà ông Thuận đang khiếu nại trước năm 1959 là của Huyện Tâm, sau đó mới bán lại cho ông Huỳnh văn Đô (đội Đô thời pháp) có diện tích là 19.900m2 đất TQ. Tọa lạc tại ấp thanh Mỹ 1, xã Thanh đức, Huyện Long Hồ. Ông Đô mới giao quyền sở hữu phần đất này lại cho con gái tên Huỳnh thị Chắt (chồng là Thiếu tá Thinh chế độ củ). Đến năm 1959 bà Chắt mới chiết ra một phần diện tích là 6.102m2 bán cho bà nguyễn thị Lầu (chồng là Đại tá Nên chế độ cũ) là chị dâu và anh ruột bà Chắt giá tiền là 5.000 (năm ngàn đồng) có chính quyền cũ thị thực ngày 28/01/1959. Từ đó gia đình bà Chắt, bà Lầu quản lý sử dụng cho đến sau ngày 30/4/1975 đến năm 1978 thì UBND huyện Long Hồ ra quyết định tịch thu diện tích 20 công đất ruộng, vườn của ông Thiếu tá Thinh, giao cho UBND xã Thanh đức quản lý.

– Ngày 27/7/1978 UBND  tỉnh ra quyết định số 299/QĐ.UBT giao cấp 10.000 m2 trong 20.000 m2 đất ruộng, vườn của ông Thiếu tá Thinh cho sở Y Tế để xây dựng bệnh viện lao của tỉnh nhưng Sở Y Tế không xây dựng nên bà Chắt và ông Thuận con ông Đại tá Nên vẫn còn ở thu huê lợi nên cơ quan xã thu thuế ông Thuận đến năm 1979-1980.

– Sau đó UBND  tỉnh lần lượt ra các quyết định số 434 ngày 13/8/1984, quyết định số 378 ngày 16/4/1986 và quyết định 701 ngày 28/8/1986 thu hồi và giao cấp cho sở Công nghiệp để xây dựng xí nghiệp rượu bia và xí nghiệp trích hương liệu trên phần đất đã quản lý diện tích là 16.817 m2, diện tích còn lại là 3.183 m2 nhà nước tạm giao cho công ty du lịch tỉnh làm trại chăn nuôi và chế biến. Năm 1985 công ty du lịch giao trả lại cho địa phương quản lý nên địa phương mới giao cấp lại cho bà chắt diện tích là 1.267m2 có khu mồ mả của thân nhân, diện tích còn lại là 1.932m2. ông Lâm cán bộ xã mượn cất nhà ở, một thời gian sau anh Lâm làm đơn xin được cấp đất phần diện tích anh đang ở được UBND xã, huyện chứng chuyển lên tỉnh xem xét, nhưng chưa được tỉnh ra quyết định giao đất thì anh Lâm chuyển nhượng nhà và hoa màu trên đất lại cho ông Nghĩa.

– Sau khi ông Thuận phát đơn khiếu nại ngày 27/7/1988 thanh tra tỉnh kết hợp với thanh tra thị xã Vĩnh Long có mời ông Thuận và 4 anh em ông Thuận là ông Danh, ông Thế, ông Cảnh, ông Đàng đến để giải quyết. Cả 4 anh em ông Thuận đều có ký tên vào biên bản cam kết không khiếu kiện xin lại đất, yêu cầu bồi hòan căn nhà (nếu được giải quyết). Riêng ông Thuận vắng mặt, sau đó và đến nay liên tục khiếu nại đòi lại phần đất nêu trên.

– Nhận xét: gốc đất là của ông Huỳnh văn Đô (đội Đô thời pháp) là cha ruột của bà Huỳnh Thị Chắt và Đại tá Huỳnh văn Nên, sau đó ông Đô mới giao lại cho con tên Huỳnh thị Chắt (chồng Thiếu tá Thinh)

– 1959 bà chắt chiết ra diện tích 6.102 m2 bán cho chị dâu tên Nguyễn thị Lầu (chồng Đại tá Nên) nên diện tích đất bà Chắt còn lại 13.898 m2.

– Năm 1978 UBND huyện Long Hồ ra quyết định tịch thu 20.000 m2 đất của gia đình Thiếu tá Thinh, vì huyện Long Hồ không nắm được việc bà Chắt đã bán cho bà Lầu (chồng Đại tá Nên) diện tích 6.102 m2 nên quyết định huyện không đề cập đến tên Đại tá Huỳnh văn Nên. Nhưng thực chất diện tích mà ông Thuận con Đại tá Nên khiếu nại đã được UBND huyện Long Hồ tịch thu từ năm 1978 và đã đưa vào bố trí sử dụng xây dựng cơ bản Nhà nước.

– Căn cứ vào tinh thần quyết định số 111/CP ngày 14/4/1977 của hội đồng Chính phủ thì ông Thiếu tá thinh và Đại tá Nên thuộc đối tượng bị Nhà nước cải tạo nhà đất và tài sản.

– Bên cạnh áp dụng chính sách cải tạo UBND huyện – tỉnh cũng có sự quan tâm tạo điều kiện và đã xét cấp lại cho bà Chắt vợ của Thiếu tá Thinh diện tích 1.267m2 đất còn đối với Đại tá Nên Nhà nước không đề cập đến việc quản lý căn nhà số 81 đường Trưng nữ Vương P1 TXVL do Đại tá Huỳnh văn Nên là chủ sở hữu (hiện các con ông Nên sử dụng)

Từ những căn cứ trên:

QUYẾT ĐỊNH

Điều 1: Nay bác đơn khiếu nại của ông Huỳnh Công Thuận sinh năm 1952, ngụ HT 59 Quận Bình Thạnh – thành phố Hồ Chí Minh xin lại diện tích 6.102 m2 đất TQ tọa lạc tại ấp Thanh Mỹ 1 xã Thanh Đức Huyện Long Hồ.

Lý do: phần đất này trước đây của bà Nguyễn thị Lầu (chồng Đại tá Nên) năm 1978 UBND huyện Long Hồ tịch thu theo tinh thần quyết định số 188/CP ngày 25/9/1976 và quyết định số 111/CP ngày 14/4/1977 của hội đồng Chính phủ.

Điều 2: Giao cho chánh thanh tra tỉnh chịu trách nhiệm chính kết hợp với giám đốc sở địa chính. Chủ tịch huyện Long Hồ mời ông Huỳnh Công Thuận đến công bố quyết định giải quyết của UBND tỉnh đồng thời theo dỏi kiểm tra việc thực hiện quyết định.

Điều 3: Các ông bà: chánh văn phòng UBND tỉnh, chánh thanh tra tỉnh, giám đốc sở địa chính Chủ tịch Huyện Long Hồ và ông Huỳnh Công Thuận chịu trách nhiệm thi hành quyết định này.

Quyết định có hiệu lực kể từ ngày ký ./-

                                                                                    TM. ỦY BAN NHÂN DÂN TỈNH                                                                                                         CHỦ TỊCH

Nơi nhận:

–           CT. các PCT.UBT

–           Như diều 3                                                               (ký tên + đóng dấu)

–           BLĐ. VP. UBT

–           Phòng tiếp dân UBT

–           Đ/c Lai

–           Lưu 4.10.5.2                                                           NGUYỄN VĂN CƯƠNG

 

Những điểm sai trái bất hợp lý trong Quyết định khống này:

1)    Quyết định số 2014/QĐ.UBT này đã được tạo dựng lập khống đề ngày 9-10-1996 nhưng lại xét tờ trình ngày 16-10-1996 (sinh con trước rồi mới sinh cha).

2)    Quyết định ban hành từ năm 1996 nhưng mãi cho đến nay vẫn không được công bố, mặc dù từ đầu năm 2001 khi phát hiện được việc này nguyên đơn Huỳnh Công Thuận đã nhiều lần yêu cầu công bố.

3)    Quyết định ghi nội dung: “v/v giải quyết đơn của ông Huỳnh Công Thuận sinh năm 1952 ngụ HT 59, Quận Bình thạnh, Tp HCM. Khiếu nại xin lại 6.102 m2 đất vườn, tọa lạc ấp thanh Mỹ 1, xã Thanh đức, Huyện Long Hồ” nhưng về phía nguyên đơn Huỳnh Công Thuận thì hoàn toàn không có “Đơn khiếu nại xin lại 6.102 m2 đất vườn…” như quyết định khống này viện dẫn.

4)    Trước đó ngày 24-4-1996 tỉnh ủy Vĩnh Long có công văn báo cho biết “bí thư tỉnh ủy có ý kiến đề nghị UBND tỉnh thành lập đoàn cán bộ xác minh làm rõ để giải quyết đúng pháp luật” nhưng về phía UBND tỉnh hoàn toàn im lặng, còn về phía thanh tra tỉnh thì đã chuyễn hoàn “THƯ THỈNH NGUYỆN số 305/96 ngày 4-1-1996 của nguyên đơn gởi ông Phan Văn Phước Chánh thanh tra tỉnh Vĩnh Long” không giải quyết hoàn trả lại cho nguyên đơn.

5)    Trước khi ban hành quyết định khống này hoàn toàn không có đối thoại hay họp xét giải quyết gì cả và cũng không hề công bố kết luận theo quy định của pháp luật.

Về nguồn gốc phần đất hương hỏa 6102m2 của gia tộc họ huỳnh chúng tôi, trong Quyết định được tạo dựng lập khống đề ngày 9-10-1996 nói rằng: Gốc đất là của Huyện Tâm bán lại cho ông Huỳnh văn Đô (đội Đô thời pháp) Ông Đô giao quyền sở hữu cho con gái tên Huỳnh thị Chắt, bà Chắt chiết ra diện tích là 6.102m2 bán cho bà nguyễn thị Lầu (chồng là Đại tá Nên chế độ cũ). Từ đó gia đình bà Chắt, bà Lầu quản lý sử dụng cho đến sau ngày 30/4/1975. Năm 1978 UBND huyện Long Hồ ra quyết định tịch thu 20.000 m2 đất của gia đình Thiếu tá Thinh, vì huyện Long Hồ không nắm được việc bà Chắt đã bán cho bà Lầu (chồng Đại tá Nên) diện tích 6.102 m2 nên quyết định huyện không đề cập đến tên Đại tá Huỳnh văn Nên. Nhưng thực chất diện tích mà ông Thuận con Đại tá Nên khiếu nại đã được UBND huyện Long Hồ tịch thu từ năm 1978 và đã đưa vào bố trí sử dụng xây dựng cơ bản Nhà nước. Căn cứ vào tinh thần quyết định số 111/CP ngày 14/4/1977 của hội đồng Chính phủ thì ông Thiếu tá thinh và Đại tá Nên thuộc đối tượng bị Nhà nước cải tạo nhà đất và tài sản.

Xin nói rỏ là tôi không khiếu nại quyết định số 2014/QĐ.UBT của UBND tỉnh Vĩnh Long đề ngày 9-10-1996 mà tôi tố cáo hành vi tạo dựng lập ra quyết định khống này chỉ với mục dích duy nhất là dùng để đối phó mà không hề công bố với những nội dung hoàn toàn sai sự thật.

Về việc giải quyết khiếu kiện nhà ở, tính đến ngày 1 tháng 7 năm 1991 chỉ xác định Nhà nước có quản lý hay không chứ không xem xét có thuộc diện Nhà nước quản lý hay không.

–       Căn cứ Quyết định số 297-CT ngày 2-10-1991 của Chủ tịch HĐBT về việc giải quyết một số vấn đề về nhà ở:

“Điều 1: Đối với nhà ở tuy thuộc diện cải tạo nhưng tính đến ngày 1 tháng 7 năm 1991 Nhà nước không tiến hành các thủ tục quản lý và thực tế Nhà nước không quản lý hoặc không bố trí sử dụng thì Nhà nước công nhận quyền sở hữu của chủ nhà.”

–       Căn cứ Thông tư số 383/BXD-ĐT ngày 5-10-1991 hướng dẫn thi hành Quyết định số 297-CT ngày 2-10-1991 của Chủ tịch Hội đồng Bộ trưởng:

“Chính sách đối với nhà cải tạo:

Khoản 4. Nhà ở trong diện cải tạo nhưng cho đến ngày 1-7-1991 mà Nhà nước không tiến hành các thủ tục quản lý và thực tế cơ quan Nhà nước không quản lý hoặc sử dụng (thường gọi là cải tạo sót) thì Nhà nước vẫn công nhận quyền sở hữu của chủ nhà, và họ có quyền định đoạt nhà ở của mình theo quy định của Pháp luật.”

  • Căn nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do tôi làm chủ hộ (và phần đất hương hỏa 6102m2 của gia tộc họ huỳnh chúng tôi do tôi nộp thuế) hoàn toàn không có quyết định quản lý và cũng không có tiến hành bất kỳ thủ tục tiếp quản nào cả, tức là Nhà nước không quản lý. Hơn nữa, phần đất của bà Chắt vì Nhà nước quản lý nên bà không phải nộp thuế, còn phần đất 6102m2 của chúng tôi vì Nhà nước không có quản lý nên tôi vẫn phải nộp thuế. Chúng tôi bị chiếm đoạt Nhà, đất, bị đuổi ra không được ở trong nhà, đất của mình trong khi bà Chắt đã vào ở và người khác đã chiếm dụng mua bán nhưng tôi vẫn bị bắt đi học tập buộc phải nộp thuế.

¨      Căn cứ: Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 111/CP ngày 14 tháng 4 năm 1977 về việc ban hành chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thỊ của các tỉnh phía nam và căn cứ: bản chính sách quản lý và cải tạo xã hội chủ nghĩa đối với nhà, đất cho thuê ở các đô thị các tỉnh phía nam (Ban hành theo Quyết định của Hội đồng Chính phủ số 111/CP ngày 14/4/1977). Ở đây trong cái Quyết định được tạo dựng lập khống đề ngày 9-10-1996 này lại gán ghép những điểm sai trái như sau:

  1. ông HUỲNH VĂN ĐÔ hoàn toàn không liên quan gì đến căn nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do tôi làm chủ hộ và phần đất hương hỏa 6.102m2 do tôi đứng tên nộp thuế, nhưng trong cái Quyết định được tạo dựng lập khống đề ngày 9-10-1996 này cố tình gán ghép ông Đô vào lại còn mở ngoặc ghi chú là (đội Đô thời pháp).
  2. ông HUỲNH VĂN NÊN cũng không liên quan, nhưng Quyết định khống này cũng cố tình gán ghép vào lại còn mở ngoặc là (Đại tá Nên). Theo án lệnh ngày 19-6-1962 chánh án tòa án tỉnh Phước Tuy phán quyết Nguyễn Thị Lầu ly thân với Đại úy Huỳnh văn Nên và tất cả các con sống với mẹ (luật gia đình 1962 định chế ly thân là cao nhất), sau đó ông Nên có gia đình khác ngụ tại số 68 đường Phó cơ Điều, TX Rạch Giá, tỉnh Kiên Giang đến sau 1975 nhà nước đã tịch thu căn nhà này. Ông HUỲNH VĂN NÊN hoàn toàn không liên quan đến căn nhà do tôi làm chủ hộ và phần đất do tôi nộp thuế, nhưng trong cái Quyết định được tạo dựng lập khống này cố tình gán ghép vào lại còn mở ngoặc là (Đại tá chế độ cũ) trong khi bà Lầu đã ly thân với ông Nên từ năm 1962 lúc ông Nên là Đại úy, quyết định khống này lại còn bịa đặt rằng căn nhà số 81 đường Trưng nữ Vương P1 TXVL do Đại tá Huỳnh văn Nên là chủ sở hữu”, căn nhà này năm 1975 ban quân quản tỉnh Cửu Long đã kê biên niêm phong nhưng sau đó xác minh biết là của bà Nguyễn thị Lầu chứ không phải của ông Nên và đã gở niêm phong, nay quyết định khống này lại cố tình gán ghép, xin cho biết ai đã cấp quyền chủ sở hửu căn nhà này cho Đại tá Nên !?.

Rất nhiều lần đăng ký xin gặp Chủ tịch tỉnh đều bị từ chối, vào đầu năm 2001 khi nhận được công văn của văn phòng Chính phủ gởi “Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long”, đăng ký xin gặp Chủ tịch tỉnh, ông Nguyễn Tấn Tứ trưởng phòng tiếp dân nhận đơn hứa hẹn nhưng sau đó viện lý do Chủ tịch bận không thể tiếp. Đồng thời phát hiện được việc có cái “Quyết định” được tạo dựng lập khống năm 1996 chỉ với mục đích là dùng để đối phó chứ không hề công bố, đến thanh tra tình yêu cầu công bố không được, đến tòa án được trả lời là “quyết định chưa được công bố nên không thể kiện”, và mặc dù nhiều lần “yêu cầu công bố” nhưng mãi cho đến nay QĐ khống này vẫn không được công bố. Điều này chứng tỏ việc không công bố quyết định là nhầm mục đích ngăn chặn không cho nạn nhân đưa hành vi sai trái tạo dựng quyết định khống này ra trước pháp luật, mặc dù trước đó ngày 24-04-1996 tỉnh ủy Vĩnh Long có Công văn số 138/CV.TU truyền đạt ý kiến của Bí thư tỉnh ủy “đề nghị Ủy ban tỉnh thành lập đoàn cán bộ để xác minh làm rõ sự việc để giải quyết theo đúng pháp luật” (trang 15) nhưng về phía ủy ban tỉnh thì hoàn toàn im lặng còn về phía thanh tra tỉnh thì ngày 4-1-1996 đã chuyễn hoàn “THƯ THỈNH NGUYỆN của nguyên đơn gởi ông Phan Văn Phước Chánh thanh tra tỉnh Vĩnh Long” không giải quyết hoàn trả lại cho nguyên đơn và các năm sau 1997-1998 cả UBND tỉnh và thanh tra tỉnh Vĩnh Long cũng giử bí mật hoàn toàn không nói đá động gì đến cái “quyết định khống năm 1996” này, cụ thể là:

1)    Giấy báo chuyển đơn số 498/TD.UBT đề ngày 25-6-1997 của UBND tỉnh Vĩnh Long hoàn toàn không nói gì đến cái “Quyết định khống năm 1996” (trang 16).

2)    Và văn bản số 134/XKT đề ngày 20-4-1998 của thanh tra tỉnh cũng hoàn toàn không nói đá động gì đến cái “Quyết định khống năm 1996” (trang 17).

Công văn số 138/CV.TU ngày 24-4-1996 của tỉnh ủy Vĩnh Long

Giấy báo chuyễn đơn của UBND tỉnh Vĩnh Long ngày 25-6-1997

(hoàn toàn không nói gì đến cái “Quyết định khống năm 1996”)

Văn bản của Thanh tra tỉnh Vĩnh Long ngày 20-4-1998

(cũng hoàn toàn không nói gì đến cái “quyết định khống năm 1996”)

Xin nói thêm: Khi nhận được văn bản này nhận thấy bị xuyên tạc bóp méo sự thật, tùy tiện áp đặt thay đổi nội dung đơn tố cáo, đến thanh tra tỉnh Vĩnh Long phản đối không kết quà. Ngày 18-05-1998 khởi kiện Mạc Hoàng thị Ngọc Yến ra tòa án Vĩnh Long về hành vi xuyên tạc, lừa dối, áp đặt nội dung “tố cáo việc cướp đoạt tài sản” bị tùy tiện thay đổi thành: “xin lại đất vườn của cha ông bị quàn lý” nhưng tòa bác đơn với lý do “sự việc không thuộc thẩm quyền của tòa”.

Như vậy chứng tỏ Quyết định khống đề ngày 9-10-1996 được tạo dựng ra chỉ với mục đích duy nhất là dùng để đối phó và được giử bí mật mà không hề công bố. Về trình tự ban hành Quyết định hoàn toàn sai trái với quy định của pháp luật, cũng như cái gọi là “đơn khiếu nại xin lại đất vườn” được viện dẫn trong quyết định khống này cũng là một sản phẩm được bịa đặt ra chứ hoàn toàn không có thật.

Hơn nữa, trong cuộc họp ngày 8-5-2001 tại thanh tra tỉnh, Chủ tịch UBND tỉnh đã làm rỏ các điểm sai trái liên quan đến quyết định này, và Chủ tịch tỉnh hứa chậm nhất là cuối tháng 5 đầu tháng 6 năm 2001 sẽ ra quyết định giải quyết dứt điểm, nhưng sau đó không thấy giải quyết, đến UB tỉnh thì cứ hứa hẹn lần lựa mãi đến mấy tháng sau khi thay Chủ tịch mới cũng không có quyết định giải quyết. Cho đến năm sau qua đường bưu điện nhận được công văn số 517/UB đề ngày 8-4-2002 do Chủ tịch mới là ông Trương văn Sáu ký, nhưng đây là “công văn trả lời” chứ không phải “quyết định giải quyết” theo như quy định của luật khiếu nại, tố cáo.

MỘT SỐ CHỨNG CỨ KHÁC:

UB Kiểm tra Trung ương báo nhận thư của đương sự ngày 25-7-1979

Nhưng ngày 5-8-1979 vẫn bị mời đi học tập

Và biên lai nộp thuế ngày 8-8-1979

Qua năm sau lại nhận được giấy báo thuế năm 1980

Thanh tra tỉnh xác nhận đã báo cáo xác minh đến ủy ban tỉnh ngày 25-4-1980 (giấy do cán bộ thanh tra tỉnh ghi)

Ban phân vùng quy hoạch và quản lý ruộng đất (tiền thân sở địa chính) mời ngày 9-2-1984 đem giấy đất đến đối chiếu với sổ bộ

Giấy báo tin của UB tỉnh ngày 17-10-1987 v/v “bị chiếm đoạt nhà ở và tài sản nhiều năm không giải quyết” chuyển Thanh tra tỉnh

Đơn xin an táng Huỳnh Công Hiệp Chủ do tịch xã ký ngày 26-7-2000 nhưng sau đó cứ bảo là không trình báo nên ngày 2-10-2003 Huỳnh Công Đàng chết nạn nhân làm “Tờ Trình Báo” đem đến xã trình báo.

Ngày 14-9-2001 công an xã lập biên bản v/v Bùi Quốc Trung chiếm dụng đất xây dựng nhà bất hợp pháp:

Đầu năm 2009 Huỳnh Công Thế bệnh nặng bệnh viện trả về lo hậu sự, chúng tôi làm “TỜ TRÌNH BÁO” an táng Huỳnh Công Thế trong nghĩa trang gia tộc có sự xác nhận của UBND xã Thanh Đức ngày 12-01-2009:

Quyết định số 255/QĐ.UBT ngày 13-2-2001:

Điểm quan trọng được khẳng định trong quyết định này:

      bà Chắt bị cán bộ địa phương ép buộc phải vào chiếm dụng cất nhà ở trong phần đất hương hỏa của chúng tôi vì vậy bà đã làm đơn xin lại một phần đất cùa bà bị Nhà nước quản lý để trả lại đất bà đang ở lại cho chúng tôi, trong quyết định số 255/QĐ.UBT ngày 13/02/2001 của UBND tỉnh Vĩnh Long có nói rõ như sau:

            “Khoảng năm 1976 Nhà nước quản lý tất cả phần đất của bà Chắt (không nhớ có quyết định hay không). Khi quản lý đất, Nhà nước có cấp cho bà một phần đất khác để bà có chổ ở và sản xuất (vị trí bà ở hiện nay)”

Đây là điểm quan trọng vì điều này khẳng định cho biết vị trí bà Chắt ở hiện nay là một phần đất khác không nằm trong phần đất của bà bị Nhà nước quản lý mà nằm trong phần đất hương hỏa của gia tộc họ HUỲNH chúng tôi (không bị Nhà nước quản lý)

III. NHẬN XÉT VÀ ĐỀ NGHỊ:

Thời gian qua UBND tỉnh Vĩnh Long cố vịn vào cái Quyết định đã được tạo dựng lập khống đề ngày 9-10-1996, lại còn khẳng định “cái quyết định được tạo dựng lập khống này là quyết định cuối cùng” nhưng từ trước đến nay từ UBND xã, UBND huyện cho đến UBND tỉnh hoàn toàn không có bất kỳ quyết định giải quyết nào cả, cho đến hôm nay là cuối năm 2011 tôi Huỳnh Công Thuận vẫn là chủ hộ không nhà, không nơi sinh sống phải sống ly hương trên chính quê hương mình.

Tóm lại:

Gia tộc chúng tôi có đầy đủ cơ sở và bằng chứng để khẳng định chủ quyền không thể tranh cải đối với căn nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do tôi làm chủ hộ và phần đất hương hỏa do tôi đứng tên nộp thuế, bao gồm mồ mả mà thân nhân mà chúng tôi đã sử dụng liên tục ổn định từ năm 1959, sau 1975 có kê khai đăng ký nộp thuế hàng năm đầy đủ mãi cho đến năm 1979-1980 tức 2 năm sau khi đã bị chiếm đoạt tôi vẫn còn nộp thuế.

Tôi là chủ hộ căn nhà số 507 này, tôi là người nộp thuế phần đất 6102m2 này vì vậy Nhà nước có quản lý nhà, đất này hay không tôi là người biết rỏ nhất. Hơn nữa, đã nhiều lần thanh tra xác minh vụ việc đã quá rõ là hoàn toàn không có quyết định quản lý và cũng không hề tiến hành bất kỳ thủ tục tiếp quản nhà, đất của chúng tôi, tức là Nhà nước không có quản lý nhà, đất của chúng tôi. Vì vậy tôi tố cáo việc bị chiếm đoạt tài sản, nhà, đất, mồ mả và sau đó là việc bị xóa hộ khẩu ngược thời gian chứ không phải là khiếu nại xin lại. Hơn nữa, mồ mả ông bà không phải là món hàng tùy tiện ban phát “xin – cho”.

Căn cứ nghị định số 136/2006/NĐ-CP ngày 14-11-2006 của Thủ tướng chính phủ. Quy định chi tiết và hướng dẫn thi hành một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo và các Luật sửa đổi, bổ sung một số điều của Luật Khiếu nại, tố cáo;

Căn cứ Thông tư số 01/2009/TT-TTCP ngày 15-12-2009 của Thanh tra Chính phủ. Quy định quy trình giải quyết tố cáo; và Thông tư số 04/2010/TT-TTCP ngày 26-8-2010 của Thanh tra Chính phủ. Quy định quy trình xử lý đơn khiếu nại, đơn tố cáo:

  • phải tổ chức đối thoại với nguyên đơn đương sự.
  • phải có quyết định giải quyết lần 1 nếu đương sự không đồng ý thì mới ra quyết định giải quyết lần 2 và rồi sau đó mới đến quyết định cuối cùng.
  • phải công bố bản kết luận trước khi ban hành quyết định.
    • Ở đây trước khi ban hành quyết định không có đối thoại, không công bố kết quả, không có quyết định lần 1, cũng không có quyết định lần 2.
    • Về cái quyết định đề ngày 9-10-1996 được tạo dựng lập khống chỉ với mục đích duy nhất là dùng để đối phó chứ không hề công bố, năm 2001 khi nạn nhân phát hiện được đã nhiều lần yêu cầu công bố nhưng cho đến nay vẫn không được công bố. Trong cuộc họp giải quyết tại trụ sở Thanh tra Tỉnh ngày 8-5-2001, Ông hai Thạch (phó Chánh thanh tra) nói rằng có gởi thư mời nhiều lần không thấy đến và sau đó đã gởi quyết định qua đường bưu điện.

Nhưng:

1)    Thứ nhất: yêu cầu cho biết số phiếu gởi hoặc biên nhận gởi thì hoàn toàn không có, thậm chí đến ngày tháng và địa chỉ đã gởi cũng không có.

2)    Thứ hai: các năm sau 1997-1998, cả thanh tra và UBND tỉnh Vĩnh Long hoàn toàn không nói đá động gì đến cái quyết định khống năm 1996 này, cụ thể là giấy báo số 498/TD.UBT ngày 25-6-1997 của UBND tỉnh (trang 19) và thư báo số 134/XKT ngày 20-4-1998 của thanh tra tỉnh (trang 20). Hơn nữa, trong quyết định khống năm 1996 có nhiều điểm điểm mâu thuẩn, bất hợp lý trái ngược với công văn 517/UB năm 2002 như đã nói trên.

Nay nạn nhân Huỳnh Công Thuận gởi đơn yêu cầu khẩn thiết xin gặp Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long để giải quyết dứt điểm về 3 việc chính như sau:

  1. Việc bị tước đoạt toàn bộ tài sản nhà, đất, mồ mả của gia tộc không quyết định, không tiến hành thủ tục, khiếu nại địa phương không giải quyết, sau khi đã khiếu nại đến trung ương nhưng sau đó đương sự vẫn bị mời đi học tập buộc nộp thuế.
  1. Việc tạo dựng lập khống quyết định đề ngày 9-10-1996 nhưng lại xét tờ trình ngày 16-10-1996 chỉ với mục đích để đối phó mà không hề công bố.
  2. Việc công văn số 517/UB của UBND tỉnh Vĩnh Long đề ngày 8-4-2002 có 2 điểm sai phạm nghiêm trọng như sau:

tuyên bố xóa hộ khẩu ngược thời gian năm 1987 trong khi sổ hộ khẩu cấp năm 1991 và

tuyên bố đã giải quyết hết thẩm quyền kể từ đây về sau không nhận đơn nữa nhưng từ trước đến nay chưa hề giải quyết và hoàn toàn không giải quyết gì cả.

Căn cứ toàn bộ văn bản pháp luật trong lĩnh vực về nhà, đất từ trước đến nay thì căn nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do tôi Huỳnh Công Thuận làm chủ hộ và phần đất hương hỏa 6.102 m2 của gia tộc chúng tôi do tôi đứng tên nộp thuế hoàn toàn không thuộc đối tượng bị cải tạo, tịch thu hay trưng thu, trưng dụng mà ngược lại còn phải được chính quyền tôn trọng và bảo bảo vệ. Hơn nữa, quy định “nhà, đất trong khi khiếu nại chưa giải quyết xong thì không được chuyển dịch” vì vậy căn nhà số 507 và phần đất phần đất hương hỏa của gia tộc chúng tôi bị chiếm đoạt và chúng tôi đã liên tục khiếu kiện từ năm 1979 không thể chuyển dịch với bất kỳ lý do gì. Bên chiếm dụng vẫn biết là việc dựa vào quyền lực ức hiếp chiếm đoạt là việc làm sai trái nhưng vẫn cứ làm, còn bên nạn nhân bị mất cả vật chất lẫn tinh thần và mất luôn cả niềm tin, đó là mất mát vô cùng to lớn, rồi lịch sử ngàn đời sẽ lên án việc này.

¨      Về phía nạn nhân đã đưa ra đầy đủ bằng chứng Huỳnh Công Thuận là chủ hộ căn nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, đồng thời là người nộp thuế phần đất hương hỏa của gia tộc và từ trước đến nay nạn nhân không hề dâng hiến, ban tặng, sang nhượng, đem bán hay từ bỏ, từ chối căn nhà và mồ mả của gia tộc mình.

¨      Về phía chính quyền từ UBND xã, UBND huyện cho đến UBND tỉnh hoàn toàn không đưa ra được bất kỳ chứng cứ nào, trong công văn 517 năm 2002 nói rằng: “việc ông tố cáo cán bộ huyện đến xã lợi dụng chức vụ để tước đoạt đất là không đúng” (trang 5) nhưng không đúng ở điểm nào thì hoàn toàn không chỉ ra được. Hơn nữa, người dân tố cáo cán bộ không đúng vậy tại sao không khởi tố về tội vu khống tố gian.

Vụ án cướp nhà, cướp mộ này là một vụ án mang tính hình sự do một số cán bộ địa phương cấu kết thực hiện trong thời gian dài, được bao che, đánh lạc hướng mà đỉnh điểm là việc tạo dựng ra Quyết định khống để đối phó, kế đến là việc tuyên bó xóa hộ khẩu. Hành vi của cán bộ địa phương tỉnh Vĩnh Long đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân gây hậu quả nghiêm trọng. Xin ông Chủ tịch hãy gìn giử một ít niềm tin còn lại của người dân chúng tôi đối với chính quyền bằng cách có biện pháp giải quyết dứt điểm “vụ án cướp nhà cướp mộ” này một cách nghiêm minh đúng theo quy định của pháp luật.

Cán bộ vô cảm trước nổi bức xúc, trước nổi oan khuất của người dân là đánh mất niềm tin, là phá hoại đất nước là có tội với dân với nước. Từ nhiều năm người dân chúng tôi vẫn kiên nhẫn chờ đợi sự thiện chí của chính quyền và người dân chúng tôi đã thông cảm đầy tình người so với cung cách hành xử có tính cách đối đầu xem thường pháp luật của cán bộ tỉnh Vĩnh Long. Cái chính là những cán bộ lãnh đạo kế tục hiện nay phải thực hiện nhiệm vụ vì khi tiếp nhận vị trí lãnh đạo là tiếp nhận cả quyền hạn và trách nhiệm trước pháp luật, cần ý thức rõ trách nhiệm của mình vừa là pháp lý vừa là đạo lý, mong chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long hãy trung thực, dũng cảm hành xử theo pháp luật, phải làm rõ vì sao người dân bị áp bức bất công liên tục khiếu kiện bao nhiêu năm trời không giải quyết là tại vì sao? rồi đây lịch sử sẽ ghi nhận thế nào về những việc áp bức bất công, cướp nhà, cướp mộ như thế này? Nếu khi sự việc mới xảy ra khi người dân khiếu nại, các cơ quan giới chức thẩm quyền có hành động ngăn chặn những việc áp bức bất công kế tiếp thì sự việc sẽ không xấu đến mức này. Quý vị lãnh đạo không thể chối bỏ trách nhiệm rằng quý vị “không biết”, “chưa biết”, vì trách nhiệm của lãnh đạo là phải biết, làm lãnh đạo mà không biết tình hình xã hội thì lãnh đạo cái gì ?.

Việc cướp nhà-cướp mộ xảy ra đối với gia tộc họ HUỲNH chúng tôi không chỉ là một vụ án bình thường, nó còn là quốc nạn đối với dân tộc Việt Nam. Chừng nào các cấp chính quyền và cơ quan bảo vệ pháp luật chưa loại bỏ được tình trạng “chiếm đoạt nhà đất mồ mả” kiểu này ra khỏi đời sống xã hội thì chừng đó những giọt nước mắt, hối hận của không ít gia đình nạn nhân lẫn kẻ thủ ác sẽ còn lăn dài khi giọt nước làm tràn ly. Vụ án cướp nhà cướp mộ này là bi kịch của quyền lực đối với con người, quyền lực có thể mất, con người có thể mất nhưng có một thứ không thể chối bỏ đó là huyết thống là tổ tiên và số mệnh đã chọn tôi phải bảo vệ mồ mả tổ tiên gia tộc, xin thề trước vong linh tổ tiên là còn một hơi thở Huỳnh Công Thuận sẽ còn theo đuổi đến cùng.

Bởi các lẽ trên, nay qua đơn thư này một lần nửa nạn nhân Huỳnh Công Thuận khẩn thiết yêu cầu được gặp ông Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Vĩnh Long với nguyện vọng trình bày việc tố cáo đúng theo quy định của luật khiếu nại, tố cáo hiện hành để có biện pháp giải quyết dứt điểm “vụ án cướp nhà, cướp mộ” của gia tộc họ HUỲNH chúng tôi. Yêu cầu có biện pháp khẩn cấp bảo vệ nạn nhân vì gia đinh ly tán, cha con, vợ chồng xa cách, nhiều người đã đi qua thế giới bên kia nhưng vẫn mang theo nỗi oan khuất xuống mồ.

Qua đơn yêu cầu khẩn thiết này mong ông chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long hãy nhận thức tầm quan trọng của vụ án mà hành xử trách nhiệm, nó sẽ ảnh hưởng đến hậu quả hoặc xấu hoặc tốt, nếu “vụ án cướp nhà, cướp mộ” vẫn không được giải quyết thì nạn nhân buộc lòng phải có phản ứng mạnh để phản đối, trả đủa đối với những hành vi áp bức bất công, xem thường pháp luật của cán bộ chính quyền, người dân phản ứng không phải vì muốn đối đầu với chính quyền mà vì chính quyền không muốn đối thoại với người dân, ở đây rõ ràng không phải vì thù hằn cá nhân, cũng không phải do các thế lực thù địch hay tổ chức phản động nào xúi dục, kích động vì chính quyền phản bội lại chính niềm tin của nhân dân.

Quý vị hãy đặt mình vào trường hợp của nạn nhân bị cướp đoạt, bị mất tất cả từ nhà cửa, đất đai cho đến mồ mả, sau bao nhiêu năm khiếu nại, tố cáo không được giải quyết thì phải làm sao? Đánh mất lòng tin của người dân là một sai lầm không thể cứu vãn.

Vẫn biết cá nhân tôi khó có thể đáp ứng được những đòi hỏi lớn lao chống áp bức bất công, nhưng do những trớ trêu buộc tôi phải đương đầu trong một tình huống cụ thể đối với những người đang hành xử pháp luật nhưng coi tài sản, sinh mạng và sự an nguy của người dân như cỏ rác. Đây là cuộc chiến của lương tâm chống lại tội ác và cũng là tiếng chuông cảnh báo đối với những cán bộ lợi dụng quyền lực áp bức người dân. Để không ai phiền trách hay hối hận khi đến tình huống xấu nhất, nếu tôi có hy sinh cũng xứng đáng với sứ mạng chống áp bức bất công và cũng là một thông điệp được gởi đến những kẻ thủ ác, với những hành vi áp bức bất công của cán bộ chính quyền đối với người dân. Và để chắc đơn này đến tay ông Chủ tịch, đơn làm thành 2 bản được gởi đến văn phòng và nhà riêng.

Ngoài ra, còn nhiều bằng chứng khác mà chắc chắn ai nhìn thấy cũng nhận ra được ngay những sai phạm nghiêm trọng, những điều bất công vô lý khiến cho nạn nhân không thể không khiếu kiện đến cùng, mong được có dịp đối thoại trình bày với các giới chức thẩm quyền.

Nếu cần có thể tham khảo online tại đây:          http://h-c-thuan.tk

 

HUỲNH CÔNG THUẬN

Chủ hộ nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. (toàn bộ tài sản, nhà, đất, mồ mả đang bị chiếm đoạt)

Địa chỉ liên lạc hiện nay: Hộp thư 67 Bưu điện vườn xoài, quận 3 – TP.HCM

Điện thoại: 0983323336 – Email: huynhcongthuan@gmail.com

Advertisements

About Huỳnh Công Thuận

Quyết tâm phải đi đến tận cùng sự thật!
Bài này đã được đăng trong Khác. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s