Hồ sơ “vụ án cướp nhà cướp mộ” gởi Thủ trưởng Cơ quan An ninh điều tra – Bộ Công an 21-12-2010

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

————–oo0oo————–

Số: 1506 (Bản lưu gởi ngày 21/12/2010)

TP.Hồ Chí Minh, ngày        tháng        năm

ĐƠN TỐ CÁO KHẨN CẤP

của nạn nhân “bị cướp nhà cướp mộ”

1. Cán bộ địa phương dùng quyền lực tước đoạt toàn bộ tài sản nhà, đất và mồ mả, nạn nhân khiếu nại địa phương không giải quyết, sau đó đã khiếu nại đến trung ương nhưng vẫn bị khủng bố bắt đi học tập buộc nộp thuế.

2. Cán bộ UBND tỉnh Vĩnh Long đã tạo dựng lập khống ra Quyết định ghi ngày 9-10-1996 nhưng lại xét tờ trình ngày 16-10-1996 chỉ với mục đích duy nhất là dùng để đối phó chứ không hề công bố.

3. Sai phạm nghiêm trọng trong công văn số 517 ngày 8-4-2002 của UBND tỉnh Vĩnh Long.

Kính gởi: Thủ trưởng cơ quan An ninh điều tra bộ Công an

I. NGƯỜI TỐ CÁO:

– Tôi tên: Huỳnh Công Thuận, Sinh ngày: 22/06/1952, CMND số: 330669464.

– Địa chỉ hiện nay: HT 67 BĐ vườn xoài, quận 3 – TP.HCM.

– Điện thoại: 0983323336

– Nguyên là chủ hộ nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long, là nạn nhân chính trong “vụ án cướp nhà cướp mộ” bị cướp đoạt toàn bộ tài sản, nhà, đất và mồ mả ông bà bao gồm  phần đất hương hỏa của gia tộc họ HUỲNH.

II. NỘI DUNG VỤ ÁN:

Phần đất hương hỏa 6.102 m2 của gia tộc họ HUỲNH tạo lập từ năm 1959 tọa lạc tại ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Trong đó ngoài căn nhà số 507 do Huỳnh Công Thuận làm chủ hộ còn có nghĩa trang gia tộc và chúng tôi đã sinh sống liên tục ổn định trong phần đất này từ năm 1959, sau khi bà Nguyễn thị Lầu (mẹ) mất vào tháng 10 năm 1975 thì Huỳnh Công Thuận (con) là chủ hộ căn nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long và có thực hiện trách nhiệm đóng thuế hàng năm đầy đủ, đầu năm 1979 sau khi đã bị tước đoạt toàn bộ tài sản đuổi đi ra khỏi nhà, đất không lý do, không thủ tục, khiếu nại không giải quyết nhưng mãi 2 năm sau 1979-1980 đương sự vẫn còn nộp thuế, và sau khi đã khiếu nại đến trung ương nhưng Huỳnh Công Thuận vẫn còn bị đòi thuế, bị bắt đi học tập buộc đóng thuế.

Diễn biến vụ án:

  • bà Nguyễn thị Bảnh là nội của tôi mất ngày 23 tết năm 1978, mới chôn chưa làm mộ thì bỗng vào đầu năm 1979 bổng bị tước đoạt toàn bộ tài sản nhà, đất không lý do, không quyết định và cũng không tiến hành bất kỳ thủ tục nào theo qui định của pháp luật, ông Võ Công Lý, phó Chủ tịch huyện Long Hồ ra lệnh miệng đuổi chúng tôi ra khỏi nhà, đất, thu tất cả các sổ gia đình, sổ mua gạo, sổ mua nhu yếu phẩm. Ông ra lệnh “bắn bỏ” nếu chúng tôi không đi, ông còn tuyên bố thách thức pháp luật và ra lệnh bắt giam anh Huỳnh Công Thế vì “dám đem luật ra tranh luậnvới cán bộ”.
  • Ngày 15-02-1979, tôi Huỳnh Công Thuận làm đơn khiếu nại đem đến xã Thanh Đức, Chủ tịch Trịnh Văn hương hứa sẽ. Trong khi chờ đợi, hai đứa em Huỳnh Công Hiệp và Huỳnh Công Đàng là học sinh, đứa lớn phải bỏ học còn đứa nhỏ vì bị tật nguyền xuội tay từ nhỏ nên được bà con thương tình bảo bọc tiếp tục đi học, riêng tôi Huỳnh Công Thuận phải ở nhờ nhà ông hai Minh (nhà đối diện) nhưng cán bộ xã lại đến bảo phải cho bà Huỳnh Thị Chắt nhà ở phần đất kế bên dời nhà sang phần đất của tôi ở, tôi không đồng ý vì đây là đất hương hỏa của gia tộc, tôi không thể và không có quyền tự một mình quyết định.
  • Đầu tháng 4 năm 1979 bà Huỳnh Thị Chắt bị Công an huyện Long Hồ bắt giam buộc làm cam kết dời nhà vào phần đất hương hỏa của gia tộc chúng tôi ở nếu không sẽ đưa bà đi cải tạo, sau đó cán bộ xã phá cửa rào của chúng tôi cho bà vào đất tôi cất nhà, trong khi chúng tôi không được ở trong nhà, đất của mình, khiếu nại khắp nơi chẳng những đã không giải quyết ngược lại nhận giấy báo thuế, đến xã khiếu nại được giải thích là vì phần đất hương hỏa của gia tộc chúng tôi không có quyết định quản lý và xã không có tiếp quản (phần đất của bà Chắt xã đã tiếp quản nên bà Chắt không phải đóng thuế).
  • vì ở xã không giải quyết nên ngày 12-04-1979 tôi làm đơn đến huyện, chủ nhiệm UB thanh tra huyện (tư Xuân) viết giấy cầm về xã, Chủ tịch xã trả lời là xã chỉ tiếp quản phần đất của bà Chắt còn phần đất hương hỏa của gia tộc chúng tôi là do phó Chủ tịch huyện làm thế nào xã không biết để chờ họp giải quyết, nhưng sau nhiều lần hứa hẹn cuối cùng ông Chủ tịch xã hăm còng đầu nếu còn đến thắc mắc. Lại làm đơn, lúc đó ông ba Vồ (cán bộ ấp) và  người em là sáu Hệ toàn quyền chiếm dụng tài sản, nhà, đất, cây trái hoa màu của chúng tôi, còn tát ao bắt cá của chúng tôi nuôi, thậm chí ông sáu Hệ còn tháo cả hàng rào đem bán.
  • Ngày 25-07-1979 làm đơn gởi: xã, huyện, tỉnh và trung ương, có nhận được giấy báo tin của VKSND TpHCM báo chuyển đến VKSND tỉnh và rồi VKSND tỉnh lại báo chuyển UB thanh tra tỉnh.
  • Nhận được giấy báo tin của UB kiểm tra Trung ương báo tin đã nhận được đơn thư đề ngày 25-07-1979 chuyễn đến UBND tỉnh, và rồi UBND tỉnh báo chuyễn UB thanh tra tỉnh, nhưng đến ngày 05-08-1979 lại nhận được “lệnh mời” do trưởng công an xã HUỲNH VĂN NHIỆM ký (sau là chánh thanh tra huyện Long Hồ rồi phó chánh thanh tra tỉnh Vĩnh Long) với nội dung: “ban Công an xã Tam long ra lệnh mời ông HUỲNH CÔNG THUẬN vào lúc 7g ngày 06/08/79 đến tại cơ quan xã để học tập chính sách thuế nông nghiệp, thời gian cho biết sau. Khi đi nhớ mang theo gạo cũi và đồ dùng cá nhân. mọi sự vắng mặt đương sự hoàn toàn chịu trách nhiệm trước pháp luật”.
  • Ngày 06-08-1979 trước khi đi học tập lại gởi đơn, có nhận được giấy báo tin lần 2 của VKSND TpHCM đề ngày 29/09/1979 hướng dẫn “gửi đến VKSND tối cao” và đài phát thanh Tp HCM đề ngày 28/12/1979 chuyển đến tỉnh ủy.
  • Ngày 09-08-1979 sau khi nộp thuế được thả ra (biên lai nộp thuế ngày 08/08/1979) đến Thanh tra tỉnh trình báo, ông Dương Công Ký (chủ nhiệm) viết giấy đến huyện; UB huyện chỉ thanh tra huyện, thanh tra huyện bảo chờ xác minh.
  • Ngày 04-10-1979 tổng điều tra dân số: 3 anh em đến chờ tại nhà bà Chắt (cất trong đất tôi), lúc đó căn nhà của chúng tôi mang số 432 ấp Thanh Mỹ, xã tam Long, huyện Long Hồ, tỉnh Cửu Long gồm có 3 nhân khẩu thường trú là: Huỳnh Công Thuận 1952 (chủ hộ), Huỳnh Công Hiệp 1960 và Huỳnh Công Đàng 1961. (nhà bà Chắt số 439 gồm có 2 nhân khẩu là: Huỳnh Thị Chắt chủ hộ và Trần Thúy Hằng.)
  • Đầu năm sau lại nhận được giấy báo thuế 1980 đồng thời được tin có người đốn cây đào đất, ngày 24-01-1980 bắt gặp 2 xe tải số 64A-0314 và 64A-1264 đang đốn cây đào lấy đất chở đi, hỏi được cho biết là Đinh Hồng Hải (cán bộ ấp) làm giấy tự nhận là chủ đất bán 1000 m2 đất cho ông Lương văn Đức (chủ lò gạch Vạn Xương) với giá 900$ (chín trăm đồng) đến xã trình báo Chủ tịch hứa sẽ xem xét nhưng sau đó khu đất 1.000 m2 tiếp tục bị đốn triệt hạ hết cây trái đào đất chở đi biến nơi đó thành cái hố sâu. Đến thanh tra tỉnh lại chỉ đến UB huyện, đến UB huyện lại bảo chờ xác minh, sau đó ông Bùi Xuân Tín (ba Tín chánh văn phòng huyện) cho biết phần đất hương hỏa và nhà của chúng tôi chính quyền không có quản lý mà là bị chiếm dụng bất hợp pháp vì vậy sẽ đưa ra tòa án xét xử.
  • Ngày 12-02-1980 VKSND tỉnh chỉ đến VKS huyện, VKS huyện lại chỉ đến tòa án tỉnh. Ngày 13-02-1980 làm đơn gởi TAND tỉnh (biên lai số 442 ngày 13-02-1980). Ngày 04-03-1980 đến huyện Long Hồ được ông Bùi Xuân Tín (chành văn phòng) trả lời cho biết là việc chiếm dụng bất hợp pháp này bà sáu Xây (Dương Bạch Xây phó chánh án tòa án tỉnh) đã thụ lý, hãy chờ tòa án tỉnh giải quyết chứ huyện dứt khoát không biết đến nữa.
  • Ngày 22-04-1980 ông năm Lợi (thanh tra tỉnh) và ông hai Vũ (nông hội tỉnh) đến lập biên bản có mời chính quyền địa phương, 2 bên mua bán và 2 người chứng (bà tám Hựu và ông hai Minh) ông Hải (bên bán) không đến còn ông Đức (bên mua) cho người đi thay, biên bản được lập với nội dung: đề nghị ngưng ngay các việc đào đất, đốn cây trái chờ UB tỉnh giải quyết và yêu cầu tôi cung cấp giấy đất, sau đó trả lời cho biết là đã báo cáo đến Ủy ban tỉnh. Chờ mãi không thấy giải quyết đến hỏi lại thì được viết giấy như sau: “gởi UB tỉnh – bản báo cáo XM, vụ đất ông Huỳnh Công Thuận ở Long Hồ. số 29/BCXM, ngày 25-4-80   thông qua đ/c Phan văn Hớn ký tên đóng dấu”.
  • Đầu tháng 8-1980 đoàn cấp CMND đến nhưng 3 anh em chúng tôi đã bị thu sổ gia đình cho nên không được làm CMND, đến Thanh tra tỉnh trình báo sau đó được làm CMND, ngày 07-08-1980 ba anh em tôi được cấp CMND với 3 số CMND liên tiếp như sau: HUỲNH CÔNG ĐÀNG số 330668462. HUỲNH CÔNG HIỆP số 330668463 và HUỲNH CÔNG THUẬN số 330668464.
  • Ngày 07-12-1981 có sự sát nhập thay đổi địa giới, làm đơn đem đến xã, xã xác nhận chuyển huyện, đến UB huyện lại chỉ thanh tra huyện, sau đó cán bộ thanh tra huyện trả lời cho biết là ông bảy Lý can thiệp không cho giải quyết.
  • Không nơi cư trú, không việc làm sinh sống, luôn sống trong lo âu, hồi họp nhất là về đêm phải tìm nơi ẩn náo, trốn tránh như tội phạm vì thường bị kiểm tra hộ khẩu, mặc dù đã khiếu nại khắp nơi nhưng nhiều năm liên tục 3 anh em tôi vẫn phải làm “đơn xin tạm vắng với lý do: chờ chính quyền giải quyết nhà đất” mà Công an xã tùy hứng lúc cho lúc không mà mỗi lần chỉ cho được có 30 ngày, ngày 08-02-1982 vì không được Công an xã cho phép tạm vắng, 3 anh em bị phạt và suýt bị đưa đi cải tạo, nhưng sau khi nghe trình bày Công an phường 1 thị xã Vĩnh Long bảo chúng tôi làm đơn rồi ký xác nhận gởi Công an xã với nội dung: “theo yêu cầu xin tạm trú của 3 anh Thuận, Đàng, Hiệp nhưng không được địa phương cho phép nên chúng tôi không thể chấp thuận cho 3 anh tạm trú được. K/c Công an xã Thanh Đức cứu xét”.
  • Ngày 03-01-1984 Sở tư pháp lấy lời khai thu các chứng cứ, sau đó gởi giấy báo tin đã sao chuyễn hồ sơ đến Ủy ban tỉnh, ban nội chính tỉnh ủy, Ủy ban thanh tra, Viện kiểm sát nhân dân, ban quản lý ruộng đất, tòa án tỉnh cùng phối họp giải quyết. Ngày 09-02-1984 ông Trần Thế Đặng Ban phân vùng qui hoạch và quản lý ruộng đất tỉnh (tiền thân sở địa chính và sở TN-MT hiện nay) mời đến đối chiếu và xác nhận giấy đất của chúng tôi chính xác với sổ bộ tại cơ quan, làm đúng thủ tục pháp định có sự chứng kiến xác nhận của chính quyền sở tại ngày 28-5 dl-1959, đã trước bạ tại Vĩnh Long ngày 11-6-1959, quyển 56, tờ 91, số 720 và đăng ký vào sổ địa bộ ngày 23-07-1959, biên lai số 819; số địa bộ mới: 810, sau đó cho biết đã báo cáo đến Ủy ban tỉnh.
  • Năm 1986 ông ba Lâm (cán bộ xã) vào cất nhà ngay chổ nhà chúng tôi còn đốn cây trái bán củi, đương sự làm đơn trình báo, sau đó ông Lâm bán lại cho bác sĩ Nghĩa, đương sự đến gặp báo cho bác sĩ Nghĩa biết, sau đó ông Lâm cấu kết với Nguyễn Trung Nghĩa (trung úy Công an) mua bán bất hợp pháp nhà đất này, ngày 20-08-1996 thanh tra Công an tỉnh có lập biên bản thu chứng cứ nhưng sau đó im lặng ( mặc dù Thanh tra Công an bộ có nhắc nhở).
  • Ngày 12-08-1986 có sự thay đổi tách nhập, xã cấp giấy chứng nhận đăng ký nhân khẩu thường trú Huỳnh Công Thuận chủ hộ số 507 tổ 2, khóm 5, ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, thị xã Vĩnh Long, tỉnh Cửu Long (hiện tôi còn giử)
  • Ngày 17-10-1987 UBND tỉnh có giấy báo tin số 235/UBT v/v “bị chiếm đoạt nhà ở và tài sản nhiều năm không giải quyết” chuyển thanh tra tỉnh giải quyết.
  • Ngày 27-01-1988 ông Hai Thành cán bộ thanh tra tỉnh mời các anh em (không có Huỳnh Công Thuận) ông nói “miệng” là “đã có quyết định của UB tỉnh”, sau đó ông lập biên bản bảo các anh em ký tên “đồng ý không khiếu kiện nữa”, ông còn nói ông Ba Lâm cán bộ xã “mượn tạm” đất cất nhà trái phép sẽ trả lời cho biết sau. Đương sự đến gặp ông hai Thành cũng trả lời là “đã có quyết định của UB tỉnh rồi” nhưng người giử hồ sơ đi vắng sẽ đưa quyết định sau, nhưng sau ông lại nói ngược lại là “xem kỹ lại rồi không có quyết định sẽ trình báo UB tỉnh giải quyết” nhưng trước đó ngày 17-10-1987 chính UB tỉnh đã báo cho biết chuyễn thanh tra tỉnh giải quyết ?.
  • Ngày 10-01-1990 Con gái của tôi được sinh ra tại bệnh viện đa khoa Vĩnh Long, được đặt tên là Huỳnh Công Anh Thư, và tôi đã đăng ký khai sinh cho con tôi tại UBND xã Thanh Đức, giấy khai sinh số 07 quyển 01 ngày 05-02-1990.
  • Trong khi sổ hộ khẩu cấp năm 1986 tôi vẫn còn giử nhưng ngày 19-05-1991 lại được Công an xã cấp sổ hộ khẩu mới với tên tôi vẫn là chủ hộ số nhà 507 tổ 2, khóm 5, ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, thị xã Vĩnh Long, tỉnh Cửu Long, trong sổ hộ khẩu mới có 2 chi tiết sai (chử lót và ngày sinh) Công an xã bảo làm đơn xác nhận và hướng dẫn đương sự đem đến Công an Thị xã Vĩnh Long là nơi quản lý hồ sơ để chỉnh sửa lại sổ hộ khẩu và cập nhật lại hồ sơ lưu tại cơ quan.
  • Ngày 23-08-1993 Tòa án tỉnh mời đương sự đến lập biên bản lấy lời khai thu chứng cứ, sau đó chuyễn đến tòa án huyện Long Hồ. Tòa án huyện không trả lời, nhiều lần đương sự đến cứ được hứa hẹn mãi đến ngày 10-03-1994 Tòa án huyện gởi giấy báo chuyễn hồ sơ đến thanh tra huyện Long hồ. Đến thanh tra huyện được trả lời là đã có quyết định của Ủy ban tỉnh, yêu cầu cho văn bản thì phó chánh thanh tra Nguyễn Ngọc Tuấn lại chỉ đến thanh tra tỉnh, đến thanh tra tỉnh lại bảo là không có quyết định (?). Vì đã nhiều lần đến thanh tra tỉnh chỉ được nghe hứa hẹn trả lời “miệng” mà mỗi lần lại trả lời giải thích mỗi kiểu khác nhau đôi khi mâu thuẩn trái ngược nhau nên ngày 19-03-1994 đương sự yêu cầu cho văn bản, Thanh tra tỉnh Vĩnh Long có viết giấy cho biết đã báo đến UB tỉnh trong báo cáo số 24 ngày 16-09-1993.
  • Năm 1995-1996 liên tục hàng trăm đơn thư: “kiến nghị – thỉnh nguyện – yêu cầu công bố kết quả thanh tra và giải quyết cụ thể dứt điểm” rồi lại “thư ngỏ” gởi đến khắp nơi từ địa phương đến trung ương cả báo, đài trong và ngoài nước, có nhận được văn bản trả lời số 130/XKT ngày 06-02-1996 của thanh tra Vĩnh Long hoàn đơn lại và cho biết “hiện nay thanh tra huyện Long hồ đang thụ lý” (kèm theo là lá đơn số 305 của đương sự gởi “ông PHAN VĂN PHƯỚC, chánh thanh tra Nhà nước tỉnh Vĩnh Long”.
  • bà nội của đương sự mất từ năm 1978 mới chôn chưa làm mộ, đã nhiều lần xin làm mộ không được, tháng 3 năm 1996 (tiết thanh minh) một lần nữa Huỳnh Công Thuận làm đơn xin làm mộ cho bà nội, Chủ tịch xã (ông Trần Văn Tích) nhận đơn hứa nhưng sau đó trả lời cho biết là không đồng ý.
  • nhận được Công văn số 138/CV.TU ngày 24-04-1996 của tỉnh ủy Vĩnh Long cho biết “bí thư tỉnh ủy có ý kiến đề nghị Ủy ban tỉnh thành lập đoàn cán bộ xác minh làm rõ sự việc để giải quyết theo đúng pháp luật” nhưng về phía UB tỉnh và Thanh tra tỉnh thì hoàn toàn im lặng không thấy có động tịnh gì cả.
  • Thanh tra Nhà nước có thư báo số 14/HD/XKT ngày 10/05/1996 trả đơn hướng dẫn đến UBND tỉnh, nhưng sau đó ngày 01-07-1996 lại gởi giấy mời số 12/GM/XKT mời đương sự đến “làm việc”, ngày 04-07-1996 gặp bà Đinh Hồ Nguyễn phó vụ trưởng vụ xét khiếu tố và bà có gọi điện thoại về Vĩnh Long trao đổi rồi bảo đương sự an tâm chờ giải quyết nhưng sau đó bà im lặng mặc cho đương sự nhiều lần đơn thư nhắc nhở nhưng hoàn toàn im lặng không trả lời.
  • Được biết vào năm 1996 ông VÕ CÔNG LÝ là phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long  phụ trách lĩnh vực giải quyết khiếu tố (bảy Lý nguyên phó Chủ tịch huyện Long hồ năm 1979 là người đã ra lệnh và tuyên bố thách thức) cuối năm 1996 đương sự viết tâm thư thỉnh nguyện gởi Thủ tướng VÕ VĂN KIỆT, sau đó làm “đơn xin thôi quốc tịch Việt Nam” gởi Chủ tịch nước và các giới chức thẩm quyền, đơn gởi đi khắp nơi từ địa phương đến trung ương cùng tất cả các cơ quan thông tin đại chúng báo đài trong và ngoài nước.
  • Ngày 14-11-1996 ông Nguyễn Kỳ Cẩm (Tổng thanh tra Nhà nước) có thư cho biết (nguyên văn như sau): “tôi đã nhận được thư của ông kèm theo thư thỉnh nguyện gởi Thủ tướng Võ Văn Kiệt. Tôi đã chuyễn thư đó đến Thủ tướng. Vậy báo để ông biết. Chúc ông và gia đình mạnh khỏe!” nhưng rồi sau đó cũng hoàn toàn im lặng (?).
  • Được tin ngày 14-06-1997 có Đoàn công tác của Chính phủ đi khảo sát tình hình khiếu tố của Công dân lại gởi nhiều đơn thư.
  • nhận giấy báo chuyễn đơn số 498/TD.UBT đề ngày 25-06-1997 của phòng tiếp dân UBND tỉnh báo chuyễn đơn đến thanh tra tỉnh Vĩnh Long (hoàn toàn không nói đá động gì đến cái “QĐ số 2014 đã được tạo dựng lập khống từ năm 1996”).
  • Đầu năm 1998 lại nghe có chỉ thị: tổng Thanh tra Nhà nước chủ trì, phối hợp với Bộ trưởng Bộ tư pháp đến quí I/98 giải quyết dứt điểm, không để tồn đọng khiếu nại tố cáo, lại gởi nhiều đơn thư nhưng cũng không được trả lời. Ngày 14-04-1998 làm đơn gởi Thủ tướng Phan Văn Khải và các lãnh đạo Chính phủ nhiệm kỳ mới. Trong khi đương sự “tố cáo” bị chiếm đoạt tài sản, nhà và mồ mả của gia tộc mà đương sự là chủ hộ và có đóng thuế đầy đủ nhưng lại nhận được văn bản số 134/XKT của thanh tra tỉnh Vĩnh Long đề ngày 20-04-1998 do MẠC HOÀNG THỊ NGỌC YẾN phó phòng xét khiếu tố thanh tra tỉnh Vĩnh Long ký với nội dung ghi là: “xin lại đất vườn của cha ông bị quàn lý” hoàn đơn hướng dẩn đến thanh tra Nhà nước và hoàn toàn không nói đá động gì đến “quyết định ký khống năm 1996”, đến thanh tra tỉnh phản đối không kết quả, ngày 18-05-1998 khởi kiện Mạc Hoàng Thị Ngọc Yến ra tòa án Vĩnh Long nhưng tòa án đã bác đơn.
  • Ngày 09-10-1998 lại nghe có chỉ thị số 35/1998/CT-TTg thành lập các tổ công tác giải quyết khiếu nại tố cáo, đương sự liên tục gởi đơn không thấy hồi âm. Ngày 28-02-1999 nhiều tập hồ sơ tài liệu, chứng cứ được gởi đến khắp các nơi và cẩn thận gởi thêm đến địa chỉ nhà riêng các lãnh đạo (gởi bằng dịch vụ có chứng nhận gởi). Ngày 10-01-2000 bốn bộ hồ sơ được gởi đến cơ quan cảnh sát điều tra và an ninh điều tra Công an tỉnh Vĩnh Long và bộ Công an.
  • Tháng 7-2000 HUỲNH CÔNG HIỆP bệnh nặng bệnh viện trả về, làm đơn xin đào huyệt trong phần đất nghĩa trang gia tộc, khi đến xã phải chầu chực cả 7 ngày trời, UB chỉ qua công an rồi CA chỉ trở lại UB, ngày 26-07-2000 gặp được Chủ tịch xã và trưởng công an cùng một chổ, ông Chủ tịch mới chịu ký xác nhận cho đào huyệt an táng Huỳnh Công Hiệp (nhưng sau đó cứ bảo là không trình báo).
  • Ngày 21-08-2000 nghe tin có các đoàn công tác liên ngành của Chính phủ được thành lập liên tục gởi nhiều đơn thư nhưng bặt vô âm tín. Sau đó nhận được giấy báo tin số 58/GB-TD ngày 20-10-2000 của phòng tiếp dân UBND tỉnh báo chuyễn đơn đến thanh tra tỉnh Vĩnh Long. Ngày 22-01-2001 đương sự làm đơn “xin được cấm đi khỏi nơi cư trú” gởi đến các nơi vì đương sự nghĩ nếu “được cấm đi khỏi nơi cư trú” tức là sẽ có nơi cư trú.
  • Nhiều lần xin gặp Chủ tịch UBND tỉnh đều bị từ chối, đầu năm 2001 nhận được Công văn của văn phòng Chính phủ đề ngày 20-12-2000 gởi “Đ/C Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long”, đến đăng ký xin gặp Chủ tịch tỉnh, trưởng phòng tiếp dân (Nguyễn Tấn Tứ) nhận đơn hứa sắp lịch, nhưng sau nhiều lần hứa hẹn cuối cùng lại viện lý do Chủ tịch bận không thể tiếp, đồng thời được biết có một cái quyết định đã được dàn dựng lập khống từ năm 1996 chỉ với mục đích duy nhất là dùng để đối phó mà không hề công bố, đó là quyết định số 2014/QĐ-UBT đề ngày 09-10-1996 nhưng xét tờ trình ngày 16-10-1996.
  • Ngày 02-04-2001 đoàn đại biểu Quốc hội tỉnh Vĩnh Long có buổi tiếp dân, ĐBQH Lý Khánh Hồng nhận đơn hứa sẽ can thiệp, nhưng sau đó thư báo đã chuyễn đến UBND tỉnh.
  • Tôi đã phải đấu tranh quyết liệt mãi đến ngày 08-05-2001 được mời tham dự cuộc họp tại thanh tra tỉnh do Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long (Nguyễn Văn Cương) chủ trì, sau khi nghe giải trình các chứng cứ ông Chủ tịch đã nhìn nhận các việc làm sai trái của cán bộ địa phương như: không có quyết định và không có tiến hành thủ tục tiếp quản, đã bị đuổi ra khỏi nhà đất đã khiếu nại còn bị bắt học tập buộc đóng thuế, đơn xin an táng do Chủ tịch xã ký xác nhận lại báo cáo là không trình báo, nhất là cái quyết định đề ngày 09-10-1996 nhưng lại xét tờ trình ngày 16-10-1996 và mãi từ năm 1996 đến nay QĐ không được công bố. cuộc họp kéo dài từ ngày 08-05-2001 đến ngày 09-05-2001 cuối cùng ông Chủ tịch hứa chậm nhất là cuối tháng 5-2001 sẽ ra quyết định giải quyết dứt điểm nhưng cho đến nay hoàn toàn không có bất kỳ quyết định nào (kể cả QĐ số 2014 đã được tạo dựng lập khống từ năm 1996 đến nay vẫn không được công bố).
  • Chờ mãi không thấy, ngày 14-09-2001 đến UB tỉnh nhắc việc Chủ tịch hứa giải quyết trong cuộc họp ngày 08-05-2001, sẳn dịp về thăm mộ mới phát hiện được có người đang đất xây nhà bít mất lối đi vào nghĩa trang, trình báo công an xã đến lập biên bản việc chiếm dụng xây nhà bất hợp pháp của tên Bùi Quốc Trung, nói thêm về việc anh Huỳnh Công Danh sinh 1943 già yếu không gia đình, anh có đến trình bày với Chủ tịch xã ý định muốn về cất nhà trong đất này trước để dưỡng già sau để gìn giử bảo quản mồ mả gia tộc, Chủ tịch xã đã trả lời là: “phần đất mồ mả này trước kia là của gia đình các ông, nhưng tôi mới làm đây không biết thời gian trước mấy ổng làm sao mà để người ta chiếm dụng ở tùm lum, ông về ở giử mồ mả là đúng rồi nhưng ông Thuận có hộ khẩu ở đây, bây giờ ông Thuận về cất nhà bảo lãnh ông về là hợp lý”.
  • Hôm sau 15-09-2001 làm đơn trình bày sự việc đem đến Thanh tra tỉnh và một lần nữa yêu cầu xin gặp Chủ tịch UBND tỉnh, ông Hai Ngọ phó Chánh thanh tra tỉnh (sau là chánh thanh tra) nhận đơn giải thích lý do chậm trể là vì có sự thay đổi lãnh đạo, chủ tịch mới chỉ đạo các quyết định giải quyết phải trực tiếp đối thoại giải trình, ông còn nói là lịch thứ năm họp giải quyết, dự định thứ năm tới (20-9-2001) sẽ mời đến giải quyết nhưng vì Chủ tịch bận họp thường vụ tỉnh ủy có lẽ thứ năm tuần sau nữa sẽ mời, ông còn ghi số điện thoại vào đơn nói là để thông báo nhưng sau nhiều lần hứa hẹn lần lựa cuối cùng ông lại nói là Chủ tịch bảo không cần gặp sẽ ra quyết định giải quyết luôn, nhưng cho đến nay hoàn toàn không có bất kỳ quyết định nào, cả cái QĐ số 2014 đã được tạo dựng lập khống từ năm 1996 đến nay cũng không được công bố (?!).
  • Ngày 08-10-2001 địa chính xã cung cấp “trích lục bản đồ giải thửa”“danh sách các hộ chiếm dụng bất hợp pháp” phần đất hương hỏa 6102m2 của gia tộc chúng tôi trong số đó gồm 4 người chiếm dụng bất hợp pháp mà có người lấn chiếm bất hợp pháp đến 7 lần đó là ông Nguyễn Trung Nghĩa (sĩ quan công an).
  • Về việc bà Chắt bị buộc vào cất nhà ở trong đất của đương sự nên bà luôn ái ngại vì mang tiếng chiếm đoạt cho nên bà làm đơn xin lại 1 phần đất của bà để ở và trả lại phần đất bà đang ở cho chúng tôi (tháng 1-2001 bà Chắt chết) được biết UB tỉnh có ban hành quyết định giải quyết đơn của bà Chắt, quyết định số 255/QĐ.UBT ngày 13/02/2001 của UBND tỉnh Vĩnh Long, trong quyết định này có nói rõ (trích nguyên văn): “Khoảng năm 1976 Nhà nước quản lý tất cả phần đất của bà Chắt (không nhớ có quyết định hay không). Khi quản lý đất, Nhà nước có cấp cho bà một phần đất khác để bà có chổ ở và sản xuất (vị trí bà ở hiện nay)” điều này khẳng định vị trí bà Chắt ở là một phần đất khác không nằm trong phần đất của bà bị Nhà nước quản lý (mà nằm trong phần đất hương hỏa 6.102 m2 của gia tộc chúng tôi không bị Nhà nước quản lý).
  • Qua năm sau, bỗng đương sự nhận được công văn số 517/UB của UBND tỉnh Vĩnh Long đề ngày 08-04-2002 “V/v trả lời đơn khiếu tố của ông Huỳnh Công Thuận”, thế nhưng công văn này chỉ mang duy nhất tính “giải thích” lại giải thích nhập nhằng với ý đồ bao che “hợp pháp hóa” các sai phạm của địa phương, công văn 517 áp đặt lập lại các điều bịa đặt gian dối, không đúng sự thật đã được nguyên Chủ tịch UBND tỉnh nhìn nhận trong cuộc họp ngày 08-05-2001(!?) cuối cùng công văn còn nói: “Nay, ủy ban nhân dân tỉnh trả lời cho ông được rỏ. Kể từ đây về sau không nhận đơn khiếu nại, tố cáo của ông…” liền sau đó đương sự gởi đơn thư phản đối chỉ ra những điểm sai trái trong công văn này nhưng không được hồi đáp trả lời chi cả. Ngày 19-04-2002 Văn phòng Quốc hội có Công văn chuyển UBND tỉnh cũng không được hồi âm. Đến cuối tháng 5-2002 đương sự lại nhận được giấy báo của phòng tiếp dân UBND tỉnh đề ngày 20-05-2002 với nội dung: “trả đơn lại vì ủy ban nhân dân tỉnh đã giải quyết hết thẩm quyền theo qui định của pháp luật” trong khi từ trước đến nay hoàn toàn không giải quyết gì cả, thậm chí căn nhà xây cất bất hợp pháp mà Công an xã đã lập biên bản sau đó người ta vẫn ngang nhiên xây cất hoàn chỉnh, trong khi đương sự vẫn là chủ hộ không nhà, không nơi cư trú.
  • Ngày 10-03-2003 đến thời hạn đổi giấy phép lái xe, đương sự đem hồ sơ đến UB xã được phó Chủ tịch UBND xã (Nguyễn Thành Lâm) ký chứng nhận.
  • Ngày 02-10-2003 HUỲNH CÔNG ĐÀNG mất, vì lần trước đơn xin an táng Chủ tịch xã ký nhưng cứ bảo là không trình báo nên lần này đương sự làm “Tờ trình báo an táng” đến UB lại chỉ sang Công an, đích thân trưởng Công an xã (Nguyễn Văn Nhung) cùng đương sự đi đến trụ sở UBND xã, nộp “tờ trình báo an táng” tận tay phó Chủ tịch xã.
  • Năm 2002 nhận được công văn số 517 của UBND tỉnh tuyên bố xóa hộ khẩu ngược thời gian (sổ hộ khẩu cấp năm 1991 nhưng lại tuyên bố đã xóa hộ khẩu năm 1987) vì vậy đương sự phải khiếu kiện quyết liệt nhưng mãi cho đến đầu năm 2005 phòng cảnh sát QLHC tỉnh Vĩnh Long mời đến, ngày 24-01-2005 khi về Vĩnh Long được anh Huỳnh Công Thế cho biết là Công an có đến nhà yêu cầu anh phải cho nhập hộ khẩu vào nhà anh, khi đương sự gặp CB cảnh sát QLHC bảo là Công an xã đã xóa hộ khẩu từ 1987, buộc phải nhập hộ khẩu vào nhà anh Thế, đương sự trình sổ hộ khẩu cấp năm 1991 và trình thêm các chứng cứ khác như CMND cấp năm 1992 và năm 2003 UB xã ký xác nhận đổi giấy phép lái xe thì làm sao hộ khẩu bị xóa ngược thời gian vào năm 1987 được? CSQLHC bảo để xác minh lại trả lời cho biết sau.
  • Nhiều lần gởi đơn nhắc không thấy trả lời mãi đến này 16-03-2005 mới được CSQLHC mời đến thông báo kết quả như sau:
    • 1/- Dù bị đuổi ra khỏi nhà từ 1979 khiếu kiện không giải quyết và trong nhiều năm 3 anh em phài xin phép tạm vắng với lý do chờ chính quyền giải quyết nhà đất nhưng CSQLHC lại bảo là Công an xã xóa tên trong hộ khẩu năm 1987 là đúng vì vắng mặt tại phương trên 06 tháng không khai báo !?
    • 2/- năm 1991 đương sự được cấp sổ hộ khẩu mới chứ không phải đổi từ sổ củ sang và (hiện còn cất giử đầy đủ cả 2 sổ hộ khẩu năm 1986 và sổ hộ khẩu năm 1991) nhưng CSQLHC lại cứ bảo là được cấp đổi lại sổ hộ khẩu mới năm 1991 là do sai sót của nhân viên Công an thiếu kiểm tra khi đổi từ sổ củ sang sổ mới.
    • 3/- Huỳnh Công Thuận khẳng định là chỉ khiếu nại việc bị xóa hộ khẩu ngược thời gian tước quyền cư trú một cách vô lý chứ hoàn toàn không xin đăng ký hộ khẩu vào nhà khác bởi là chủ hộ có sổ hộ khẩu hợp pháp sao phải xin nhập vào nơi khác ? nhưng CSQLHC lại cứ bảo việc xin đăng ký hộ khẩu vào anh Thế đã được chấp thuận trong khi đương sự hoàn toàn không có xin đăng ký?. Sau đó ngày 12/4/2005 CSQLHC tỉnh Vĩnh Long có gởi thông báo: “qua nghiên cứu, xét thấy vượt thẩm quyền giải quyết của phòng CSQLHC, đã chuyễn đơn đến thanh tra Công an tỉnh Vĩnh Long tiếp nhận giải quyết”.
  • Ngày 13-05-2005 thanh tra Công an tỉnh lập biên bản với nội dung như sau:
    • cán bộ Thanh tra Công an nói là: [1]- việc cắt hộ khẩu năm 1987 vì bỏ địa phương đi không trình báo nên bị xóa tên nhưng không thu hồi sổ hộ khẩu được, vào năm 1991 được cấp sổ hộ khẩu mới vì thiếu kiểm tra, [2]- năm 1992 căn cứ vào sổ hộ khẩu nên Công an tỉnh Vĩnh Long cấp CMND mới.
      • Nhưng sự thật là: [1]- Sổ hộ khẩu cấp ngày 19-05-1991 có 2 chi tiết sai, Công an xã hướng dẫn đem đến Thị xã Vĩnh Long để chỉnh sửa lại sổ hộ khẩu và hồ sơ lưu tại Công an thị xã Vĩnh Long. [2]- CMND cũ của đương sự cấp năm 1980 bị nếp gắp hư nên năm 1992 đồi CMND mới chứ không phải được cấp CMND từ sổ hộ khẩu 1991.
    • TTCA: vấn đề đương sự khiếu nại đòi lại phần đất 6102m2 tại xã Thanh Đức (bao gồm nhà đất và khu mồ mả họ tộc) thuộc trách nhiệm của UBND tỉnh. Do yêu cầu được bảo đảm quyền công dân chấp thuận cho nhập vào hộ khẩu của anh Thế.
      • đương sự trả lời là chủ hộ hiện còn giử sổ hộ khẩu nên đương sự chỉ khiếu nại việc bị tuyên bố cắt hộ khẩu ngược thời gian chứ không xin nhập hộ khẩu. Hơn nữa vì bị chiếm đoạt nhà đất không có chổ ở (hiện tôi vẫn còn kiện) chứ đương sự không bỏ địa phương đi và trong nhiều năm 3 anh em vẫn phải xin tạm vắng vơi lý do chờ chính quyền giải quyết nhà, đất. Và năm 2003 UBND xã còn xác nhận đương sự có hộ khẩu tại địa phương. Nay đương sự yêu cầu chính quyền giải quyết dứt điểm về việc bị chiếm đoạt nhà đất tại xã Thanh Đức. Cuối biên bản khi ký tên đương sự ghi rõ “yêu cầu được bảo lưu hộ khẩu tại xã Thanh Đức”. sau đó có gởi đơn đến Đại tướng bộ trưởng bộ Công an và Chánh thanh tra bộ Công an.
  • Ngày 19-10-2005 ông Phạm Ngọc Châu cán bộ cục QLHC về TTXH (qua điện thoại) mời đến trụ sở Công an xã, cuộc họp thông qua các nội dung như sau:
  1. Cán bộ QLHC: Chỉ giải quyết về hộ khẩu còn về nhà đất không thuộc thẩm quyền giải quyết của ngành Công an.
  2. 2. Huỳnh Công Thuận: tôi khiếu nại việc Công an xã Thanh Đức tuyên bố đã xóa hộ khẩu năm 1987 với lý do bỏ địa phương đi không trình báo là không thể bởi vì:

[1]- sổ hộ khẩu cấp năm 1991 thì không thể nào xóa hộ khẩu ngược thời gian vào năm 1987 được.

[2]- nhà, đất bị chiếm đoạt không nơi cư trú chứ chúng tôi không bỏ địa phương đi, liên tục khiếu kiện nhưng trong nhiều năm hàng tháng chúng tôi vẫn xin tạm vắng với lý do chờ chính quyền giải quyết nhà đất.

  1. Cán bộ QLHC: Buộc nguyên đơn phải có nhà ở hợp pháp hay người thân bảo lãnh cho nhập hộ khẩu (trong tỉnh Vĩnh Long), sau khi giải quyết đề nghị đương sự không khiếu nại về vấn đề hộ khẩu nữa.
  2. Huỳnh Công Thuận: về nhà ở hợp pháp thì có nhưng đang bị chiếm đoạt khiếu nại chưa được giải quyết, công dân phải có hộ khẩu vì vậy tôi tạm thời đồng ý chuyển hộ khẩu gởi tạm vào nhà của người bạn, về sổ hộ khẩu của tôi cấp năm 1991 hiện còn cất giử vẫn có giá trị pháp lý vì vậy tôi vẫn tiếp tục khiếu nại bảo lưu hộ khẩu của tôi.
  • Ngày 19-07-2005 anh Huỳnh Công Danh nộp ĐƠN XIN CẤP GIẤY CHỨNG NHÂN QUYỀN SỬ DỤNG ĐẤT (Mẫu số 04/DK) đối với phần đất hương hỏa 6102 m2 của gia tộc họ HUỲNH chúng tôi. Qua năm sau ngày 24-03-2006 UBND xã Thanh Đức có công văn số 03/CV.UB trả lời đơn của anh Danh, nội dung như sau: “Đơn ông trình bày nguồn gốc đất của mẹ ông là bà Nguyễn thị Lầu mua của bà Huỳnh thị Chắt ngày 28-5-1959 tại xã Long Đức nhưng ông xuất trình được giấy tờ về quyền sử dụng đất hợp pháp của mẹ ông trên phần đất này không chứng minh là đất là đất đã được kê khai đăng ký và sử dụng ổn định từ trước đến nay và cũng không có tên trong sổ đăng ký ruộng đất, sổ bộ địa chính… UBND không xem xét giải quyết”.
  • Ngày 16-11-2006 Huỳnh Công Thuận nộp đơn đăng ký xin gặp Chủ tịch UBND tỉnh yêu cầu giải quyết dứt điểm “vụ án cướp nhà, cướp mộ” của gia tộc họ HUỲNH, cán bộ Nguyễn Thanh Phong nhận đơn hứa là sẽ trả lời trong tuần nhưng chỉ nói miệng chứ không cấp biên nhận nên sau đó ngày 19-11-2006 đương sự gởi thêm một số đơn đến Chủ tịch UBND tỉnh, bí thư tỉnh ủy, thường trực HĐND tỉnh, Đại biểu Quốc hội, trụ sở tiếp công dân tại Tp HCM (gởi bằng dịch vụ ghi số có phiếu hồi báo ký nhận).
  • Chờ không thấy, điện thoại gặp CB Phong thì được cho biết là thanh tra mới báo cáo sơ bộ với Chủ tịch cứ chờ có thể tuần sau Chủ tịch sẽ cho mời, chờ không thấy lại gọi đến thì CB Phong bảo là Chủ tịch từ chối không tiếp bảo cứ kiện lên Chính phủ. Ngày 26-12-2006 UBND tỉnh Vĩnh Long có công văn trả lời Chủ tịch từ chối không tiếp nhưng lại nói là “V/v trả lời đơn xin cứu xét của Huỳnh Công Thuận” trong khi đương sự không có xin cứu xét mà xin gặp Chủ tịch UBND tỉnh để tố cáo 3 việc chính là:

1) Việc thứ nhất: cán bộ địa phương tước đoạt toàn bộ tài sản nhà, đất, mồ mả của gia tộc không quyết định, không tiến hành thủ tục, khiếu nại địa phương không giải quyết, sau khi đã khiếu nại đến trung ương nhưng sau đó đương sự vẫn bị bắt đi học tập buộc nộp thuế.

2) Việc thứ hai: cán bộ địa phương tạo dựng lập khống QĐ số 2014 chỉ với mục đích duy nhất là dùng để đối phó mà không hề công bố.

3) Việc thứ ba: khiếu nại 2 điểm trong công văn số 517 năm 2002 của UBND tỉnh Vĩnh Long [1:] tuyên bố xóa hộ khẩu ngược thời gian năm 1987 trong khi sổ hộ khẩu cấp năm 1991 và [2:] tuyên bố đã giải quyết hết thẩm quyền kể từ đây về sau không nhận đơn nữa nhưng từ trước đến nay chưa hề giải quyết và hoàn toàn không giải quyết gì cả.

  • Năm 2007 lần lượt vào các ngày 15-02-2007; 26-04-2007; 25-09-2007; 15-11-2007; 14-12-2007 và ngày 29-12-2007 đương sự gởi nhiều “đơn tố cáo” và đều có phiếu báo phát cảu bưu điện nhưng không nơi nào trả lời, giải quyết chi cả. Ngày 25-09-2007 đương sự trực tiếp nộp đơn tại trụ sở tiếp công dân của trung ương Đảng và Nhà nước tại TP.HCM (số 210 Võ Thị Sáu). Năm 2008 lần lượt vào các ngày 25-01-2008; 05-02-2008; 04-03-2008; 02-10-2008; 09-12-2008 và ngày 11-12-2008 gởi các ĐƠN TỐ CÁO KHẨN CẤP, tất cả đều có phiếu báo phát của bưu điện nhưng cũng không nơi nào trả lời, giải quyết gì cả. Năm 2009 lần lượt vào các ngày 05-01-2009 và ngày 16-02-2009 gởi ĐƠN TỐ CÁO bằng dịch vụ bưu phẩm ghi số (tất cả đều có giấy hồi báo ký nhận).
  • Và mới đây, vào ngày 16-09-2010 nạn nhân Huỳnh Công Thuận đã làm hồ sơ “vụ án cướp nhà cướp mộ” gởi đến các cơ quan giới chức thẩm quyền cùng báo đài.

III. TÀI LIỆU CHỨNG CỨ:

1. Nguồn gốc phần đất hương hỏa của gia tộc họ HUỲNH:

Phần đất hương hỏa 6.102 m2 của gia tộc họ HUỲNH và căn nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do Huỳnh Công Thuận làm chủ hộ là tài sản hợp pháp của Gia tộc họ HUỲNH, hiện tất cả tài sàn nhà, đất và mồ mả của gia tộc đang bị chiếm đoạt trái phép, cán bộ địa phương lợi dụng quyền lực đã tổ chức chiếm đoạt một cách bất hợp pháp, tùy tiện chiếm dụng, giao cấp cho người khác sử dụng trái phép rồi câu kết tạo chứng cứ giả để hợp thức hóa, ngụy tạo dàn dựng lập ra quyết định khống để đối phó mà không hề công bố, đương sự đã liên tục khiếu nại tố cáo nhưng không được giải quyết. Với Quyết tâm phải đi đến tận cùng sự thật, nay phải dùng mọi biện pháp để tố cáo “vụ án cướp nhà, cướp mộ” này ra trước dư luận để tất cả mọi người biết rỏ sự thật vụ việc áp bức bất công đối với gia tộc họ HUỲNH chúng tôi đã kéo dài trong bao nhiêu năm qua.

Gia tộc họ HUỲNH chúng tôi khẳng định phần đất hương hỏa 6102m2 của gia tộc hiện tọa lạc tại ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long và căn nhà số 507 do Huỳnh Công Thuận làm chủ hộ bị chiếm đoạt bất hợp pháp bởi nguồn gốc phần đất 6.102 m2 này của gia tộc họ HUỲNH là đất mua hợp pháp với các chứng cứ sau:

1- Năm 1959, bà Nguyễn thị Lầu đứng tên mua phần đất với chu vi 4 cạnh: 113 m x 93 m x 138 m x 15 m, tổng diện tích là 6.102 m2 để làm đất hương hỏa và làm nghĩa trang cho gia tộc họ HUỲNH (hiện trong đó có 8 ngôi mộ gia tộc).

2- Ngày 09-02-1984 Ban Phân vùng qui hoạch và quản lý ruộng đất tỉnh (tiền thân của Sở Địa chính và sở TN-MT hiện nay) có mời đương sự đến đối chiếu sổ bộ xác nhận phần đất 6.102m2 này là hoàn toàn hợp pháp, trước bạ tại Vĩnh Long ngày 11-6-1959, quyển 56, tờ 91, số 720 và đăng ký vào sổ địa bộ ngày 23-7-1959, biên lai số 819; số địa bộ mới: 810.

3- Ngày 08-10-2001 địa chính xã Thanh Đức cung cấp “trích lục bản đồ giải thửa” cùng với “danh sách các hộ chiếm dụng bất hợp pháp”, riêng một mình Nguyễn Trung Nghĩa (SQ Công an) đã liên tục 7 lần lấn chiếm bất hợp pháp.

4- Hơn nữa, gia tộc họ HUỲNH đã sử dụng liên tục và ổn định phần đất hương hỏa 6.102 m2 này từ năm 1959, đã dày công tu sửa từ đất ruộng thành vườn cây ăn trái, tháng 11 năm 1975 bà Nguyễn thị Lầu chết thì Huỳnh Công Thuận là chủ hộ nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long và có đóng thuế hàng năm đầy đủ, mãi cho đến 2 năm sau (1979-1980) sau khi đã bị tước đoạt toàn bộ tài sản, nhà, đất, mồ mả một cách bất công vô lý nhưng Huỳnh Công Thuận vẫn còn tiếp tục đóng thuế (hiện đương sự còn giử biên lai nộp thuế).

TÓM LẠI:

Gia tộc họ HUỲNH có đầy đủ những bằng chứng lịch sử và cơ sở pháp lý để khẳng định chủ quyền đối với phần đất hương hỏa 6.102 m2 tọa lạc tại xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long. Mọi sự chiếm dụng, chuyển dịch đối với phần đất hương hỏa của gia tộc họ HUỲNH đều là vi phạm pháp luật. Gia tộc chúng tôi khẳng định quyết tâm theo đuổi “vụ án cướp nhà, cướp mộ” này tới tận cùng.

Phần đất hương hỏa 6102 m2 của gia tộc họ HUỲNH hiện tọa lạc tại xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vỉnh Long là đất mua hợp pháp, do bà Nguyễn thị Lầu (vợ ông Huỳnh Văn Nên) mua lại của bà Huỳnh Thị Chắt ngày 28-05-1959, hai bên mua bán có làm tờ bán đứt đất chiếc như sau:

TỜ BÁN ĐỨT ĐẤT CHIẾC năm 1959

Về hình thức:

Tờ đoạn mãi làm đúng thủ tục pháp định, có sự hiện diện của hai người phối ngẩu trước sự chứng kiến xác nhận của chính quyền sở tại ngày 28-5 dl-1959, và ngày 09-02-1984 Ban phân vùng qui hoạch và quản lý ruộng đất tỉnh (tiền thân của sở địa chính và sở TN-MT) sau khi đối chiếu đã xác nhận giấy đất của chúng tôi hoàn toàn hợp pháp đã trước bạ tại Vĩnh Long ngày 11-06-1959, quyển 56, tờ 91, số 720 và đăng ký vào sổ địa bộ ngày 23-07-1959, biên lai số 819; số địa bộ mới: 810.

Về nội dung:

Có 2 điểm chính:

1- Đàng bán Huỳnh Thị Chắt chủ đất bằng lòng chiết ra bán đứt cho đàng mua Nguyễn Thị Lầu 6102m2, có họa đồ (trang 1)

2- Lời giao kết (nguyên văn trang 2): “đàng mua được làm chủ vĩnh viễn theo ý muốn; nếu sau này có điều chi sai trái về vụ mua bán đất này thì chủ bán phải đền bồi các tổn phí”.


Về việc sử dụng:

Gia tộc họ HUỲNH đã sử dụng liên tục và ổn định phần đất 6.102 m2 này từ năm 1959, phần đất này được dùng làm đất hương hỏa cho gia tộc họ HUỲNH có một phần làm nghĩa trang cho gia tộc còn có căn nhà do chính tay anh em chúng tôi dựng lên. Lúc mua năm 1959 là đất ruộng, chúng tôi đã dày công tu sửa cải tạo thành vườn cây trái, có hàng rào bao quanh riêng biệt, sau khi bà Nguyễn thị Lầu (mẹ) chết thì Huỳnh Công Thuận (con) là chủ hộ có đóng thuế hàng năm đầy đủ mãi cho đến 2 năm sau khi bị tước đoạt (1979-1980) Huỳnh Công Thuận vẫn còn tiếp tục đóng thuế, năm 1979 sau khi bị tước đoạt toàn bộ tài sản nhà, đất và mồ mả họ tộc không lý do đã khiếu nại đến trung ương và UB kiểm tra trung ương đã có trả lời từ nhưng sau đó Huỳnh Công Thuận vẫn còn bị bắt đi học tập buộc đóng thuế, còn bên phần đất kế cận của bà Chắt do bà đăng ký kê khai đóng thuế tên bà, mồ mả thân nhân hai gia đình cũng chôn cất riêng biệt: ông Trần Văn Thinh chồng bà Chắt mất năm 1977 chôn phía bên phần đất của bà Chắt (đến 1979 bà đã bốc mộ lấy cốt đem đi). Trong phần đất hương hỏa 6102 m2 của gia tộc họ HUỲNH chúng tôi bao gồm căn nhà và nghĩa trang gia tộc, hiện trong đó có 8 ngôi mộ bao gồm 3 thế hệ thân nhân họ HUỲNH chúng tôi lần lượt được chôn theo thứ tự thời gian như sau:

  1. 1. Ông nội:  Huỳnh văn Đô chết, chôn và lập mộ tháng 9-1963.
  2. 2. Cha:         Huỳnh văn Nên chết, chôn và lập mộ tháng 3-1971.
  3. 3. em gái:    Huỳnh thị Thanh Bình chết, chôn và lập mộ tháng 12-1973.
  4. 4. mẹ:           Nguyễn thị Lầu chết, chôn và lập mộ tháng 10-1975.
  5. 5. bà nội:     Nguyễn thị Bảnh chết, chôn từ năm 1978, lập mộ năm 2002.
  6. 6. em trai:    Huỳnh Công Hiệp chết, chôn và lập mộ tháng 7-2000.
  7. 7. em trai:    Huỳnh Công Đàng chết, chôn và lập mộ tháng 10-2003.
  8. 8. anh:          Huỳnh Công Thế chết, chôn và lập mộ tháng 01-2009

“Trích lục bản đồ giải thửa” và “Danh sách các hộ chiếm dụng bất hợp pháp” do cán bộ địa chính xã Thanh Đức cung cấp ngày 08-10-2001, trong đó có ghi rỏ Nguyễn Trung Nghĩa (Trung úy Công an) đã liên tục 7 lần lấn chiếm bất hợp pháp.

2. Công văn số 517/UB ngày 08-04-2002:

Những điểm mâu thuẩn bất hợp lý:

2.1 Công văn 517 đã viện dẫn 2 quyết định:

  • Một là: Quyết định số 13/QĐ-UBH.HC đề ngày 20-03-1978 của UBND huyện Long Hồ: Quyết định này hoàn toàn không liên quan đến Huỳnh Công Thuận vì không có điều khoản nào nói đến Huỳnh Công Thuận (hoặc gia đình Huỳnh Công Thuận).
  • Hai là: Quyết định số 2014/QĐ-UBT đề ngày 09-10-1996 của UBND tỉnh Vĩnh Long: Quyết định này đã được tạo dựng ra chỉ với mục đích duy nhất là dùng để đối phó mà không hề công bố và mãi cho đến nay dù nhiều lần đương sự yêu cầu nhưng vẫn chưa được công bố đến đương sự.

2.2 Công văn 517 cho rằng: “xét về nguồn gốc và diễn biến qua các quá trình chuyển dịch trước đó, căn cứ vào chính sách ruộng đất của Nhà nước sau ngày giải phóng Miền nam thì Nhà nước không thừa nhận việc mua bán đất này từ huyện Tâm bán cho bà Chắt, cũng như từ bà Chắt bán cho mẹ tôi. Do đó gia đình tôi không được Nhà nước công nhận quyền sử dụng đối với phần đất này mà phần đất trên thuộc diện Nhà nước quản lý”. “Quyết định số 13/QĐ-UBH.HC ngày 20-3-1978 của UBND huyện Long Hồ là đúng quy định…”. Việc này hoàn toàn không đúng, bởi ngày 09-02-1984 tức 6 năm sau kể từ ngày có quyết định số 13, Ban Phân vùng qui hoạch và quản lý ruộng đất (tiền thân của Sở Địa chính) có mời tôi đến đối chiếu (giấy mời số 12/QLRD ngày 8-2-1984), ông Trần Thế Đặng đã xác nhận giấy đất của chúng tôi là hoàn toàn hợp pháp đúng với sổ bộ gốc tại cơ quan: phần đất 6102m2 đã trước bạ ngày 11-06-1959, quyển 56, tờ 91, số 720 và đã đăng ký vào sổ địa bộ mới ngày 23-07-1959, biên lai số 819; số địa bộ mới: 810, sau đó ông cho biết đã báo cáo đến UBND tỉnh. Về việc này trong công văn 517 có hai điểm khuất tất không đúng sự thật là:

  • 1/- giấy mua bán được làm đúng thủ tục pháp định, có sự dự thính và cho phép của hai người phối ngẩu có xác nhận của chính quyền địa phương ngày 28-5 dl-1959, trong đó có lời giao kết: “đàng mua được làm chủ vĩnh viễn theo ý muốn; nếu sau này có điều chi sai trái về vụ mua bán đất này thì chủ bán phải đền bồi các tổn phí”. Trường hợp nếu Nhà nước không thừa nhận việc mua bán này như công văn 517 này nói thì đã trả lời ngay từ khi tôi mới bắt đầu khiếu kiện (1979) và vụ kiện này đã chấm dưt từ lâu chứ đâu cần phải đợi sau khi người bán chết (bà Chắt chết năm 2001) mới nói ngược như thê này?
  • 2/- Về việc giải quyết khiếu kiện nhà, đất chỉ cần xác định Nhà nước có quản lý hay không chứ không cần xem xét đúng hay sai. Về phần đất 6.102 m2 (và căn nhà) của chúng tôi từ trước đến nay không có quyết định quản lý và cũng không có tiến hành bất kỳ thủ tục tiếp quản nào theo qui định pháp luật và nếu sự thật Nhà nước đã quản lý phần đất 6.102 m2 của chúng tôi thì tôi đã không bị mời đi học tập buộc phải đóng thuế.

2.3 Tại điểm 2 Công văn 517 nói: “năm 1979-1980 UBND xã mời học tập buộc đóng thuế vì ở thời điểm này tôi vẫn còn ở thu huê lợi” “có người khác bán đất mà tôi vẫn phải chịu thuế là không đúng”. Nhưng sự thật là:

  • Giấy báo tin số 3221/VP/KT ngày 22-11-1979 của ủy ban kiểm tra trung ương Đảng báo nhận đơn ngày 25-07-1979 trước ngày bị mời đi học tập (lệnh mời do trưởng Công an xã ký ngày 05-08-1979, biên lai thuế số 0863102/TNN ngày 08-08-1979) vì từ đầu năm 1979 sau khi đã khiếu nại tại địa phương xã, huyện, tỉnh không được giải quyết, đến tháng 4-1979 bà Chắt dọn nhà sang đất tôi ở trong khi chúng tôi không được ở trong nhà, đất của mình cho nên sau đó tôi phải khiếu nại đến Trung ương.
  • Đến đầu năm 1980 nhận được giấy báo thuế đồng thời có một số xe tải đến đốn cây đào đất của chúng tôi chở đi, đến gặp chủ lò gạch “Vạn Xương” là ông Lương văn Đức có đưa tôi xem giấy bán đất do ông Đinh Hồng Hải (cán bộ ấp) làm giấy tự nhận là chủ đất bán 1.000 m2 đất cho ông với số tiền là 900$ (chín trăm đồng). Việc này ngày 22-04-1980 thanh tra tỉnh có đến lập biên bản, sau đó cho biết đã báo cáo đến UBND tỉnh trong báo cáo số 29 ngày 25-04-1980 do ông Phan văn Hớn ký.

2.4 Công văn 517 còn khẳng định: “UBND xã Thanh Đức cho biết là xã không có nhận được đơn của ông Thuận xin phép xây mồ cho bà nội cũng như việc xin phép xây kim tỉnh cho em là Huỳnh Công Hiệp”

  • Điều này hoàn toàn không đúng, bởi đơn xin an táng em tôi Huỳnh Công Hiệp do Chủ tịch UBND xã Thanh Đức ký ngày 26-07-2000. Lúc đó em tôi bị bệnh nan y bệnh viện trả về, và tôi đã phải chầu chực chờ đợi cả 7 ngày trời mới được Chủ tịch xã ký xác nhận cho đào huyệt để an táng.

2.5 Tại điểm 3 Công văn 517 còn nói rằng: trước đây “Huỳnh Công Thuận có hộ khẩu thường trú nhưng sau đó bỏ địa phương đi không trình báo nên công an xã đã xoá hộ khẩu vào năm 1987”.

  • Việc này hoàn toàn không đúng sự thật, bởi sổ hộ khẩu của Huỳnh Công Thuận cấp ngày 19-05-1991 thì không thể xóa hộ khẩu “ngược thời gian” vào năm 1987 được và mặc dù từ đầu năm 1979 chúng tôi đã bị đuổi ra khỏi nhà, đất của mình đã khiếu nại khắp nơi nhưng hàng tháng trong nhiều năm chúng tôi vẫn phải làm đơn xin tạm vắng với lý do chờ chính quyền giải quyết nhà, đất mà công an xã khi đó tùy ý lúc cho lúc không và mỗi lần chỉ cho phép tạm vắng 30 ngày, có lần không được cho tạm vắng Công an nơi tạm trú đã đề nghị Công an xã xem xét cho chúng tôi tạm vắng. Hiện tôi còn cất giử một số đơn tạm vắng-tạm trú vào các năm 1980 và một số giấy tờ khác có sự chứng nhận của chính quyền xã Thanh Đức vào các năm 1990-2000. Hơn nửa, trong cuộc họp ngày 08-05-2001, ông Chủ tịch UBND tỉnh Nguyễn Văn Cương đã giận dử phát biểu: “đơn xin tạm vắng chờ chính quyền giải quyết nhà đất của người ta Công an xã ký rành rành như thế này mà nói là bỏ địa phương đi không trình báo là sao”.

2.6 Mặt khác, giữa quyết định 2014 và công văn 517 về nguồn gốc đất có những điểm khác biệt mâu thuẩn nhau:

  • Quyết định 2014 nói “của huyện Tâm bán lại cho ông Huỳnh Văn Đô…”
  • Công văn 517 lại nói “của huyện Tâm bán cho gia đình bà Nguyễn Thị Chắt…” Công văn 517 lại còn cố tình gán ghép, giải thích lập lờ chồng chéo giữa hai phần đất của gia đình bà Chắt với phần đất hương hỏa 6.102 m2 của gia tộc chúng tôi.

2.7 Chưa hết, tại điểm 2 công văn 517 không biết với ý đồ gì lại bịa ra một chi tiết mới (trích nguyên văn): “Ông cho là đầu năm 1979 ông đã bị tước đoạt toàn bộ tài sản bao gồm: 1 ngôi nhà lá, đất, mồ mả ông bà”: điều này là hoàn toàn sai sự thật vì ngôi nhà của chúng tôi là “nhà tôn, vách tre”.

Tóm lại, Công văn 517 này đã cố tình bịa đặt, gán ghép nói là sau cách mạng tháng 8 đã cấp cho nông dân nhằm mục đích phủ nhận chủ quyền của gia tộc họ HUỲNH đối với phần đất hương hỏa của gia tộc chúng tôi tại xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long cuối cùng tuyên bố “kể từ đây về sau không nhận đơn khiếu nại, tố cáo của ông có liên quan đến nội dung trên, vì đã hết thẩm quyền của UBND Tỉnh theo qui định của pháp luật” trong khi từ trước đến nay UBND tỉnh hoàn toàn chưa giải quyết gì cả, trong khi tôi vẫn là chủ hộ không nhà, không nơi cư trú, điều đáng nói nhất là cái “QĐ 2014″ được ngụy tạo dàn dựng đề ngày 09-10-1996 nhưng lại xét tờ trình ngày 16-10-1996 chỉ với mục đích duy nhất là dùng để đối phó mãi cho đến nay vẫn không được công bố (!?) Công văn 517 tránh né dùng những tài liệu chính thức, chỉ dùng những tài liệu không có căn cứ, không đối chiếu kiểm chứng hoặc chỉ suy diễn áp đặt từ những việc không có thật giống như phương cách và giọng điệu ngang ngược của Trung Quốc tuyên bố phủ nhận chủ quyền của Việt Nam đối với biển, đảo của Việt Nam.

­­­­­­­

3. Quyết định số 2014 được tạo dựng lập khống ghi ngày 09-10-1996:

Quyết định số 2014/QĐ.UBT được tạo dựng ra chỉ với mục đích duy nhất là dùng để đối phó mà không hề công bố, quyết định ghi ngày 09-10-1996 nhưng lại xét tờ trình ngày 16-10-1996 (sinh con rồi mới sinh cha), đến đầu năm 2001 khi phát hiện được việc này đương sự đã nhiều lần yêu cầu công bố nhưng cho đến nay quyết định này vẫn chưa được công bố vì vậy đương sự không có bản chính.

Bản sao chép nguyên văn nội dung quyết định số 2014/QĐ/UBT ghi ngày 9-10-1996 nhưng lại xét tờ trình ngày 16-10-1996:


­­

Những điểm mâu thuẩn bất hợp lý:

3.1 Quyết định số 2014/QĐ.UBT (QĐ 2014) đề ngày 09-10-1996 nhưng lại xét tờ trình ngày 16-10-1996 (sinh con rồi mới sinh cha).

3.2  Quyết định số 2014 nói là (nguyên văn): “v/v giải quyết đơn của ông Huỳnh Công Thuận sinh năm 1952 ngụ HT 59, Quận Bình thạnh, Tp HCM. Khiếu nại xin lại 6.102 m2 đất vườn, tọa lạc ấp thanh Mỹ 1, xã Thanh đức, Huyện Long Hồ” nhưng về phía đương sự Huỳnh Công Thuận hoàn toàn không có đơn nào gọi là “đơn khiếu nại xin lại 6.102 m2 đất vườn” như quyết định số 2014 này nói cả.

3.3  Hơn nữa, ngày 24-04-1996 tỉnh ủy Vĩnh Long có văn thư báo cho biết “bí thư tỉnh ủy có ý kiến đề nghị UBND tỉnh thành lập đoàn cán bộ xác minh làm rõ để giải quyết đúng pháp luật” nhưng về phía UBND tỉnh hoàn toàn im lặng không có động tịnh gì cả, còn về phía thanh tra tỉnh đã gởi giấy báo tin trả lời cho biết không giải quyết, hoàn trả lại cho nguyên đơn “THƯ THỈNH NGUYỆN số 305/96 ngày 04-01-1996 của đương sự gởi ông Phan Văn Phước Chánh thanh tra tỉnh Vĩnh Long”.

3.4  Ngoài việc không thành lập đoàn cán bộ xác minh làm rõ như chỉ đạo của bí thư tỉnh ủy, cũng hoàn toàn không có cuộc họp giải quyết nào trước khi ban hành quyết định và trước khi ban hành cũng không hề công bố kết luận hay bản dự thảo nào cả.

3.5  Quyết định số 2014 ghi ban hành từ năm 1996 nhưng mãi cho đến nay vẫn không hề công bố, mặc dù từ đầu năm 2001 khi phát hiện được việc này đương sự rất nhiều lần yêu cầu công bố.

3.6  Nhiều lần đương sự đăng ký xin gặp Chủ tịch tỉnh đều bị từ chối, vào đầu năm 2001 khi nhận được công văn số 1027/KT-V2 ngày 20-12-2000 của văn phòng Chính phủ gởi “Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long” đến đăng ký xin gặp Chủ tịch tỉnh, ông Nguyễn Tấn Tứ trưởng phòng tiếp dân nhận đơn hứa hẹn nhưng sau đó viện lý do Chủ tịch bận không thể tiếp.

Dưới đây là Công văn số 138/CV.TU ngày 24-04-1996 truyền đạt ý kiến của Bí thư tỉnh ủy Vĩnh Long “đề nghị Ủy ban tỉnh thành lập đoàn cán bộ để xác minh làm rõ sự việc để giải quyết theo đúng pháp luật” nhưng về phía UBND tỉnh cũng như Thanh tra tỉnh Vĩnh Long thì hoàn toàn im lặng không có động tịnh gì cả (!?)

Đầu năm 2001 khi đương sự phát hiện được cái “Quyết định” đã được dàn dựng lập khống đề ngày 09-10-1996 chỉ với mục đích duy nhất là dùng để đối phó mà không hề công bố, đương sự đến thanh tra tình yêu cầu công bố nhưng không được, đến tòa án được trả lời là “vì quyết định chưa được công bố tòa không thể thụ lý”. Điều này chứng tỏ việc không công bố là nhầm mục đích ngăn chặn không cho nạn nhân đưa hành vi sai trái đã ngụy tạo dàn dựng lập khống QĐ 2014 ra trước pháp luật, cũng như vào các năm sau 1997-1998 cả UBND tỉnh và thanh tra tỉnh Vĩnh Long cũng hoàn toàn không nói đá động gì đến cái QĐ 2014 được tạo dựng lập khống ngày 09-10-1996 này, cụ thể là:

Giấy báo chuyển đơn số 498/TD.UBT ngày 25-06-1997 của UBND tỉnh Vĩnh Long Văn bản số 134/XKT ngày 20-04-1998 của thanh tra tỉnh Vĩnh Long (hoàn toàn không nói đá động gì đến cái QĐ 2014 năm 1996)


Ngoài ra, văn bản 134/XKT này còn xuyên tạc, lừa dối, áp đặt nội dung từ “tố cáo việc cướp đoạt tài sản” bị thay đổi thành: “xin lại đất vườn của cha ông bị quàn lý”, đương sự đến thanh tra tỉnh Vĩnh Long phản đối không kết quả. Ngày 18-05-1998 đã khởi kiện Mạc Hoàng thị Ngọc Yến ra tòa án Vĩnh Long về hành vi xuyên tạc, lừa dối, áp đặt trái pháp luật nhưng tòa án trả lời bác đơn.

Như vậy chứng tỏ Quyết định 2014 lập khống ngày 09-10-1996 được tạo dựng ra chỉ với một mục đích duy nhất là dùng để đối phó chứ không hề công bố và mãi cho đến nay quyết định này vẫn được giử bí mật không công bố mặc dù nguyên đơn nạn nhân Huỳnh Công Thuận đã nhiều lần yêu cầu công bố. Về trình tự ban hành Quyết định cũng hoàn toàn sai với quy định của pháp luật, cũng như cái gọi là “đơn khiếu nại xin lại đất vườn” được viện dẫn trong quyết định lập khống năm 1996 này cũng là một tác phẩm được người ta tạo dựng, bịa đặt ra chứ hoàn toàn không có thật.

Hơn nữa, trong cuộc họp ngày 08-05-2001 tại thanh tra tỉnh, chính Chủ tịch UBND tỉnh (ông nguyễn Văn Cương) đã nhìn nhận các điểm sai trái trong QĐ số 2014 được tạo dựng lập khống ngày 09-10-1996 này và hứa chậm nhất là cuối tháng 5 đầu tháng 6 năm 2001 sẽ ra quyết định giải quyết dứt điểm, nhưng rồi không thấy giải quyết, đến UB tỉnh thì được hứa hẹn mãi cho đến mấy tháng sau đến khi thay Chủ tịch mới cũng không thấy quyết định giải quyết. Mãi sang năm sau qua đường bưu điện lại nhận được công văn số 517/UB đề ngày 08-04-2002 do Chủ tịch UBND tỉnh mới là ông Trương văn Sáu ký, nhưng đây lại là “công văn trả lời đơn khiếu tố” chứ không phải “quyết định giải quyết đơn khiếu tố” theo như quy định của pháp luật, liền sau đó liên tục nhiều lần gởi đơn thư phản đối công văn số 517/UB này và nhiều lần đăng ký xin gặp Chủ tịch UBND tỉnh, từ nguyên Chủ tịch Trương văn Sáu đến Chủ tịch Phạm Văn Đấu hiện nay nhưng tất cả đều từ chối không tiếp công dân.

Xin được nói rỏ thêm về cuộc họp giải quyết ngày 08-05-2001 tại trụ sở thanh tra tỉnh Vĩnh Long dưới sự chủ trì của Chủ tịch UBND tỉnh (ông Nguyễn Văn Cương) diễn biến như sau:

  • Đang sống lưu lạc tha hương đương sự nhận được điện thoại từ cán bộ phòng tiếp dân UBND tỉnh Vĩnh Long mời vào ngày 08-05-2001 đến Thanh tra tỉnh tham dự cuộc họp giải quyết vụ khiếu kiện của đương sự, sáng ngày 08-05-2001 khi đến phòng tiếp dân UBND tỉnh để nhận giấy mời thì được trả lời cho biết là phòng tiếp dân chỉ mời giùm ủy ban, đến UBND được trả lời không cần giấy mời cứ đến thẳng trụ sở Thanh tra tỉnh !?
  • về sau được biết cuộc họp ngày 08-05-2001 được tổ chức với ý đồ ép buộc đương sự phải chấp nhận các việc áp đặt buộc đương sự phải đồng ý ký biên bản cam kết không khiếu nại nữa nhưng cuộc họp kéo dài từ ngày 08-05-2001 tiếp diễn qua ngày 09-05-2001 với các chứng cứ cụ thể không thể chối cải cho nên Chủ tịch UBND tỉnh (ông nguyễn Văn Cương) đã phải nhìn nhận các việc làm sai trái của cán bộ địa phương cũng như QĐ 2014 được tạo dựng lập khống ngày 09-10-1996, và vì không thể áp đặt buộc đương sự ký biên bản cam kết không khiếu nại nữa cho nên sau đó người ta đã giấu nhẹm không đá động gì đến cuộc họp giải quyết này, người ta cố tình phớt lờ xem như không có cuộc họp giải quyết ngày 08-05-2001 tại trụ sở Thanh tra tỉnh Vĩnh Long với sự chủ trì của Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long !

4. Quyết định số 255/UB.UBT ngày 13-02-2001:

Điều được khẳng định trong Quyết định này:

Quyết định số 255/QĐ.UBT do Chủ tịch Nguyễn Văn Cương ký ban hành ngày 13-02-2001 khẳng định vị trí bà Chắt ở hiện nay là một phần đất khác không nằm trong phần đất của bà bị Nhà nước quản lý (mà nằm trong phần đất hương hỏa của gia tộc họ HUỲNH không bị Nhà nước quản lý).

Mặc dù đương sự Huỳnh Công Thuận biết bà Chắt bị ép buộc vào ở trong phần đất hương hỏa của gia tộc đương sự nhưng trong các đơn thư khiếu kiện đương sự vẫn phải đề cặp đến tên bà, coi như bà là một trong những người chiếm đoạt đất của gia tộc đương sự cho nên bà luôn bức rứt, ái náy vì vậy bà Chắt đã làm đơn xin lại một phần đất cùa bà (đã bị Nhà nước quản lý) để ở và trả lại đất bà đang ở lại cho đương sự, ngày 13/02/2001 UBND tỉnh Vĩnh Long đã ban hành quyết định số 255/QĐ.UBT, trong quyết định này có nói rõ:

(Trích nguyên văn) Khoảng năm 1976 Nhà nước quản lý tất cả phần đất của bà Chắt (không nhớ có quyết định hay không). Khi quản lý đất, Nhà nước có cấp cho bà một phần đất khác để bà có chổ ở và sản xuất (vị trí bà ở hiện nay)”.

5. Một số tài liệu chứng cứ khác:

UB Kiểm tra Trung ương báo tin đã nhận được đơn thư đề ngày 25-7-1979:

Nhưng đến ngày 05-08-1979 vẫn bị “LỆNH MỜI” học tập buộc đóng thuế:

Biên lai nộp thuế năm 1979:

và giấy báo thuế năm 1980:


Sở tư pháp mời đem tài liệu chứng cứ đến, sau đó cho biết đã sao chuyễn hồ sơ đến Ủy ban tỉnh, ban nội chính tỉnh ủy, Ủy ban thanh tra, Viện kiểm sát nhân dân, ban quản lý ruộng đất, tòa án tỉnh cùng phối họp giải quyết:


Giấy báo tin của UB tỉnh ngày 17-10-1987 v/v “bị chiếm đoạt nhà ở và tài sản nhiều năm không giải quyết” chuyển UB Thanh tra tỉnh:


Sổ hộ khẩu cấp ngày 19-05-1991 (CMND cấp ngày 24-03-1992) trong sổ hộ khẩu có 2 chi tiết sai, Công an xã hướng dẫn đem đến Thị xã Vĩnh Long để chỉnh sửa lại sổ hộ khẩu và hồ sơ lưu tại Công an thị xã:

Ngày 20-08-1996 Thanh tra công an tỉnh mời đương sự Huỳnh Công Thuận đến lập biên bản về việc ông Nguyễn Trung Nghĩa (trung úy Công an) câu kết với ông ba Lâm (cán bộ xã) chiếm dụng mua bán trái phép nhà, đất của đương sự nhưng rồi hoàn toàn im lặng (mặc dù sau đó ngày 11-12-1996 Thanh tra bộ Công an có gởi giấy báo tin):

Ngày 14-11-1996 ông Nguyễn Kỳ Cẩm (Tổng thanh tra Nhà nước) có thư báo cho biết đã chuyển thư thỉnh nguyện đến Thủ tướng Vỏ Văn Kiệt:

Ngày 23-08-1993 Tòa án tỉnh mời Huỳnh Công Thuận đến lập biên bản thu các chứng cứ, sau đó báo chuyễn đến tòa án huyện:

Sau nhiều lần hứa hẹn rồi cuối cùng ngày 10-03-1994 Tòa án huyện báo chuyễn hồ sơ đến cơ quan thanh tra huyện:

Thanh tra huyện chỉ đến thanh tra tỉnh, đến thanh tra tỉnh chỉ UB tỉnh:

Nhưng ngày 06-02-1996 thanh tra tỉnh Vĩnh Long hoàn đơn lại và báo cho biết là “hiện nay thanh tra huyện Long hồ đang thụ lý”:

Công văn số 1027/KT-V2 ngày 20-12-2000 của văn phòng Chính phủ gởi “Đ/C Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long”:

Đơn xin an táng Huỳnh Công Hiệp do chính Chủ tịch UBND xã ký ngày 26-07-2000 nhưng cứ bảo là không trình báo:

Biên bản do công an xã Thanh Đức lập ngày 14-09-2001 v/v Bùi Quốc Trung chiếm dụng xây dựng nhà bất hợp pháp:

Ngày 19-04-2002 VPQH có Công văn đề nghị UBND tỉnh xem xét:

Trong khi hoàn toàn chưa giải quyết gì cả nhưng giấy báo ngày 20-05-2002 lại nói là “UBND tỉnh đã giải quyết hết thẩm quyền theo qui định của pháp luật”:

Ngày 26-12-2006 UBND tỉnh trả lời Chủ tịch từ chối không tiếp dân nhưng nói là “trả lời đơn xin cứu xét” trong khi đương sự xin gặp Chủ tịch để tố cáo 3 việc:

1- việc phần đất hương hỏa tài sản nhà, đất và mồ mả của gia tộc họ HUỲNH bị tước đoạt không quyết định và không tiến hành thủ tục tiếp quản theo qui định của pháp luật.

2- việc cán bộ địa phương tạo dựng khống QĐ số 2014/QĐ.UBT với mục đích đối phó mà không hề công bố, QĐ ghi ngày 09-10-1996 lại xét tờ trình ngày 16-10-1996.

3- việc CV 517 tuyên bố xóa hộ khẩu Huỳnh Công Thuận ngược thời gian vào năm 1987 trong khi sổ hộ khẩu cấp năm 1991.

Đầu năm 2009 Huỳnh Công Thế bệnh nặng bệnh viện trả về, ngày 12-01-2009 gia tộc chúng tôi làm “TỜ TRÌNH BÁO” đem Huỳnh Công Thế về an táng trong nghĩa trang gia tộc có sự xác nhận của UBND xã Thanh Đức:

IV. NHẬN XÉT VÀ ĐỀ NGHỊ

Người chủ mưu gây ra “Vụ án cướp nhà, cướp mộ” này và dùng quyền lực cản trở việc xử lý là ông Võ Công Lý, nguyên phó Chủ tịch UBND huyện Long Hồ năm 1979,  năm 1996 là phó Chủ tịch UBND tỉnh Vĩnh Long phụ trách lãnh vực khiếu nại, tố cáo là thời điểm tạo dựng lập khống quyết định số 2014 ghi ngày 09-10-1996. Đầu năm 2001 khi nạn nhân phát hiện được đã tố cáo và trong cuộc họp ngày 08-05-2001 tại Thanh tra tỉnh, ông Nguyễn Văn Cương Chủ tịch UBND tỉnh đã nhìn nhận hứa sẽ giải quyết nhưng đến ngày 08-04-2002 ông Trương Văn Sáu (Chủ tịch mới) lại ký ban hành công văn trả lời số 517 với ý đồ làm cho mọi người nghĩ rằng UBND tỉnh Vĩnh Long đã giải quyết xong bởi trong công văn 517 này có viện dẫn ra 2 quyết định sau:

1- Quyết định số 13 năm 1978 của UBND huyện Long Hồ.

2- Quyết định số 2014 năm 1996 của UBND tỉnh Vĩnh Long.

Nhưng công văn 517 lại cố tình lập lờ, bóp méo sự thật, đánh lạc hướng hầu đối phó, xét nội dung 2 quyết định số 13 và quyết định số 2014 cụ thể như sau:

  • Về Quyết định số 13 năm 1978 của UBND huyện Long Hồ: hoàn toàn không liên quan gì đến Huỳnh Công Thuận (hoặc gia đình đương sự).
  • Về Quyết định số 2014 ghi ngày 09-10-1996 của UBND tỉnh Vĩnh Long: được tạo dựng lập khống, từ năm 2001 khi phát hiện được đương sự đã tố cáo nhưng CV 517 lại nói rằng QĐ 2014 này là quyết định cuối cùng, nếu như không biết được trình tự thủ tục ban hành QĐ 2014 này đã được tạo dựng lập khống thì ai cũng nghĩ rằng CV 517 này đúng. Trong quyết định 2014 được tạo dựng lập khống ngày 09-10-1996 này ngoài những điều bịa đặt gán ghép mà người bình thường khó phát hiện được, nhưng “giấu đầu lòi đuôi” khi quyết định ghi ngày 09-10-1996 nhưng lại xét tờ trình ngày 16-10-1996 (sinh con rồi mới sinh cha). Đây là một sai phạm nghiêm trọng nhưng suốt bao nhiêu năm không bị phát hiện vì QĐ 2014 được giử bí mật, chỉ dùng để đối phó mà không hề công bố.

Phải khẳng định quyết định sô 2014 đã được tạo dựng lập khống bởi vì:

  • Quyết định ghi ngày 09-10-1996 nhưng lại xét tờ trình ngày 16-10-1996.
  • Công văn số 138-CV/TU ngày 24-04-1996 cho biết bí thư tỉnh ủy có ý kiến đề nghị UBND tỉnh Vĩnh Long thành lập đoàn cán bộ xác minh làm rõ sự việc để giải quyết theo đúng pháp luật nhưng UBND và Thanh tra tỉnh hoàn toàn im lặng.
  • Theo quy định: (1) phải có quyết định giải quyết lần 1 (lần đầu) nếu đương sự không đồng ý tỉnh mới ra quyết định giải quyết lần 2 còn gọi là quyết định cuối cùng. (2) phải tổ chức đối thoại trước khi ra quyết định và (3) phải công bố dự thảo kết luận trước khi ban hành quyết định. Ở đây hoàn toàn không có quyết định lần 1, không có đối thoại và cũng không hề công bố dự thảo.
  • Tại điều 2 quyết định 2014 có ghi: “Giao cho chánh thanh tra tỉnh chịu trách nhiệm chính kết hợp với giám đốc sở địa chính. Chủ tịch huyện Long Hồ mời ông Huỳnh Công Thuận đến công bố quyết định…“ nhưng người ta giử bí mật mà không hề công bố, đầu năm 2001 khi nạn nhân phát hiện được và nhiều lần yêu cầu công bố nhưng mãi cho đến nay quyết định này vẫn không được công bố đến đương sự.
  • Hơn nữa, trong quyết định số 2014 này có nhiều điểm điểm mâu thuẩn, bất hợp lý trái ngược với công văn 517/UB như đã nói trên.

Ngoài ra, còn những sai phạm khác như:

1)      Bị tước đoạt toàn bộ tài sản, nhà, đất và mồ mả khiếu nại nhiều lần địa phương chỉ hứa hẹn mà không giải quyết, khi khiếu nại đến trung ương nhưng sau đó đương sự vẫn bị Công an xã ra “LỆNH MỜI” học tập buộc nộp thuế.

2)      công văn 517 tuyên bố xóa hộ khẩu ngược thờ gian: Trong khi Sổ hộ khẩu cấp năm 1991 lại tuyên bố đã xóa hộ khẩu vào năm 1987, ở đây có một điều may mắn là trong sổ hộ khẩu cấp năm 1991 ghi sai 2 chi tiết là chử lót và ngày sinh và Công an xã đã hướng dẫn đương sự làm đơn xác nhận đem đến Công an Thị xã Vĩnh Long là nơi quản lý hồ sơ để chỉnh sửa lại sổ hộ khẩu và cập nhật lại hồ sơ lưu tại Công an thị xã Vĩnh Long.

3)      Căn cứ toàn bộ văn bản pháp luật điều chỉnh trong lĩnh vực bất động sàn về nhà, đất từ trước đến nay thì phần đất hương hỏa 6.102 m2 của gia tộc họ HUỲNH và căn nhà số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do Huỳnh Công Thuận làm chủ hộ hoàn toàn không thuộc đối tượng bị cải tạo, tịch thu hay trưng thu, trưng dụng mà ngược lại còn phải được chính quyền tôn trọng và bảo bảo vệ. Hơn nữa, quy định “nhà, đất trong khi khiếu nại chưa giải quyết xong thì không được chuyển dịch” vì vậy căn nhà số số 507 ấp Thanh Mỹ, xã Thanh Đức, huyện Long Hồ, tỉnh Vĩnh Long do Huỳnh Công Thuận làm chủ hộ và phần đất phần đất hương hỏa 6.102 m2 của gia tộc họ HUỲNH bị chiếm đoạt và đương sự đã liên tục khiếu kiện không thể chuyển dịch, yêu cầu điều tra trong số những người chiếm dụng, lấn chiếm bất hợp pháp đó có ai đã “chạy lo” được giấy đỏ giấy hồng chưa ?

Thời gian qua UBND tỉnh Vĩnh Long cố vịn vào cái Quyết định đã được tạo dựng lập khống năm 1996 cho rằng “quyết định này là quyết định cuối cùng” nhưng từ trước đến nay hoàn toàn không có bất kỳ quyết định nào, đầu năm 2001 khi phát hiện được việc người ta tạo dựng lập khống quyết định đương sự đã nhiều lần tố cáo và trong cuộc họp tại thanh tra tỉnh ngày 08-05-2001 chính ông Chủ tịch tỉnh Vĩnh Long đã nhìn nhận và hứa sẽ ra giải quyết dứt điểm. Vì vậy, phải khẳng định “vụ án cướp nhà, cướp mộ” này là một vụ án mang tính hình sự do một số cán bộ địa phương cấu kết thực hiện trong thời gian dài, sau đó được bao che, đánh lạc hướng mà đỉnh điểm là việc tạo dựng ra Quyết định khống để đối phó, kế đến là việc tuyên bó xóa hộ khẩu ngược thời gian. Hành vi của cán bộ địa phương tỉnh Vĩnh Long đã xâm phạm quyền và lợi ích hợp pháp của người dân gây hậu quả nghiêm trọng.

­­­­­

Bởi các lẽ trên, nay đề nghị Thủ trưởng cơ quan An ninh điều tra bộ Công an có biện pháp giải quyết dứt điểm “vụ án cướp nhà, cướp mộ” của gia tộc họ HUỲNH chúng tôi đúng theo chủ trương của Nhà nước và Chính phủ. yêu cầu có biện pháp khẩn cấp bảo vệ nạn nhân. Gia đinh ly tán, cha con, vợ chồng xa cách, nhiều người đi qua thế giới bên kia mang theo nỗi oan khuất, đã đến lúc phải có hành động thiết thực để phản đối, trả đủa lại những hành vi áp bức bất công, xem thường pháp luật của cán bộ chính quyền. Rõ ràng ở đây hoàn toàn không phải vì thù hằn, cũng không phải do các thế lực hay tổ chức nào xúi dục, kích động vì chính quyền phản bội lại chính niềm tin của nhân dân.

Đơn tố cáo khẩn cấp này được gởi đến ông cơ quan An ninh điều tra để phòng khi nạn nhân không thể kéo dài cuộc sống để tham gia đối thoại thì những tài liệu chứng cứ này sẽ nói thay người chết

HUỲNH CÔNG THUẬN

Địa chỉ hiện nay: Hộp thư 67 Bưu điện vườn xoài, quận 3 – TP.HCM

Điện thoại: 0983323336 – Email: huynhcongthuan@gmail.com


Advertisements

About Huỳnh Công Thuận

Quyết tâm phải đi đến tận cùng sự thật!
Bài này đã được đăng trong Khác. Đánh dấu đường dẫn tĩnh.

Trả lời

Mời bạn điền thông tin vào ô dưới đây hoặc kích vào một biểu tượng để đăng nhập:

WordPress.com Logo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản WordPress.com Đăng xuất / Thay đổi )

Twitter picture

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Twitter Đăng xuất / Thay đổi )

Facebook photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Facebook Đăng xuất / Thay đổi )

Google+ photo

Bạn đang bình luận bằng tài khoản Google+ Đăng xuất / Thay đổi )

Connecting to %s